Nguyễn Văn Tuấn's Blog

Category: Phiếm luận Published: 11 October 2009
Hits: 6277

tuan's blog

  • Chuyên ngành loãng xương có gì mới?

    Posted on: 26 July 2017, 5:24 pm


    Những cái không mới

    Nhưng để cho câu chuyện tương đối đầy đủ và có trước có sau, tôi sẽ nói về những kiến thức có thể xếp vào hàng kinh điển. Như nhiều bạn trong ngành y biết, định nghĩa về loãng xương đã trải qua một thời kì tiến hóa. Trước đây, loãng xương chỉ đơn giản là người bị gãy xương cột sống hay biến dạng các đốt sống (còn gọi là verterbral deformity). Nhưng với sự tiến bộ của công nghệ dual energy X-ray absorptiometry (DXA) chúng ta có thể đo mật độ xương một cách chính xác (chứ không còn dùng quang tuyến X như ngày xưa nữa), và do đó định nghĩa của bệnh của có phần thay đổi. Năm 2015, các chuyên gia trong chuyên ngành xương đã thống nhất định nghĩa loãng xương là [tôi viết theo cách diễn giải của tôi]:


    "bệnh lí mà đặc điểm chính là mật độ xương bị suy giảm và cấu trúc xương bị thoái hóa, dẫn đến xương bị yếu và làm gia tăng nguy cơ bị gãy khi va chạm với một lực nhỏ." (1)


    Hai yếu tố quan trọng trong định nghĩa trên là mật độ xươngcấu trúc xương. Mật độ xương ở đây có nghĩa là lượng chất khoáng trong xương được tính trên một diện tích hay thể tích xương. Còn cấu trúc xương ở đây là đề cập đến sự liên kết giữa các mô trong xương và hai thể loại xương chính là trabecular bone (xương xốp) và cortical bone (xương đặc). Mật độ xương phản ảnh phần lượng. Cấu trúc xương phản ảnh phần chất. Lượng và chất làm cho xương chúng ta mạnh hay yếu. Khi ở tuổi 50 trở đi, thì lượng bị suy giảm và chất bị thoái hóa, làm cho xương trở nên yếu (fragile) chúng ta dễ bị gãy xương. Có nhiều khi chỉ cần một cái hắt hơi cũng làm cho xương sườn bị gãy. Chúng ta thỉnh thoảng thấy người thân trong gia đình đang đi đứng bình thường, rồi bổng dưng trượt chân té ngã và bị gãy xương. Đó là tín hiệu cho thấy họ bị loãng xương. Do đó, gãy xương do loãng xương ngày nay có tên là "fragility fracture" (thay cho thuật ngữ "osteoporotic fracture" ngày xưa).


    Gãy xương, như các bạn thấy trong định nghĩa trên, là hệ quả của loãng xương. Nói theo ngôn ngữ bình dân, loãng xương là yếu tố nguy cơ (risk factor) của gãy xương. Gãy xương mới chính là vấn đề lớn, vì gãy xương làm giảm tuổi thọ (sẽ nói sau) và làm cho bệnh nhân có khi nằm liệt giường, đi lại rất khó khăn. Xương nào cũng có thể bị gãy, nhưng những xương thường hay bị gãy là xương đùi (nguy hiểm nhất), xương cột sống thắt lưng (nguy hiểm thứ hai), xương tay, xương chân, xương chậu và xương sườn. Có nhiều khi xương bị gãy (như xương cột sống) nhưng bệnh nhân không hề biết hay có triệu chứng gì. Do đó, giới y khoa thường xem bệnh lí loãng xương là một căn bệnh âm thầm (silent disease).


    Có lẽ đối với nhiều bạn còn trẻ không mấy quan tâm đến gãy xương. Tôi đã từng gặp những người mà khi tôi nói gãy xương, họ chỉ cười. Họ không sợ. Kể ra thì cũng có phần đúng, vì giới trẻ sợ bệnh ung thư, tiểu đường, hay đột quị hơn là sợ bệnh xương. Nhưng khi họ đã bị loãng xương hay bị gãy xương thì lúc đó mới "thấy quan tài" nó như thế nào. Tôi không có ý dọa ai cả, mà chỉ nói lên một sự thật là: gãy xương làm cho bệnh nhân chết sớm. Khoảng 20% bệnh nhân (hay 1 trên 5) bị gãy cổ xương đùi chết trong vòng 12 tháng. Nhưng ngay cả gãy xương tay, xương cột sống, xương chậu cũng làm suy giảm tuổi thọ, và đó là kết quả của rất nhiều nghiên cứu trong quá khứ và mới đây chỉ ra. Có thể gãy xương không phải là nguyên nhân gây tử vong trực tiếp, nhưng qua các cơ chế sinh học khác, gãy xương và loãng xương làm cho người mắc bệnh chết sớm. Điều này có nghĩa là chúng ta nên quan tâm đến sức khỏe của xương, chứ không nên xem thường bộ xương mà chúng ta đang sở hữu.


    Chăm sóc bộ xương như thế nào?


    Đến đây thì có lẽ các bạn sẽ hỏi tôi: vậy chăm sóc sức khỏe xương ra sao. Đây là câu hỏi mà nếu trả lời đầy đủ thì cần cả một cuốn sách, nhưng tôi sẽ vắn tắt và cố gắng giải thích sao cho dễ hiểu. Nguyên lí chính là xây dựng bộ xương cho vững chãi lúc còn trẻ. Lí do là vì xương của chúng ta "tiến hóa" theo từng giai đoạn. Trong độ tuổi thiếu niên (bây giờ người ta gọi bằng cái danh từ hết sức kì cục và lai căng là "tuổi teen") mật độ xương tăng rất nhanh, và đạt mức độ cao nhất trong tuổi thanh niên hoặc trung niên (từ từ 20 đến 30 tuổi). Mật độ xương tương đối bình ổn trong độ tuổi 30 đến 50. Sau độ tuổi 50 (hay sau mãn kinh ở nữ giới) thì xương giảm rất nhanh trong thời gian 2-5 năm sau mãn kinh, và sau đó thì giảm khoảng 0.5% mỗi năm. Tính trung bình, khi nữ sống đến độ tuổi 60 hay 70, họ đã mất ít nhất là 35% xương! Nam cũng mất xương, nhưng ít hơn nữ. Do đó, chúng ta phải cố gắng tối đa hóa mật độ xương lúc tuổi thanh xuân, tức 20-30 tuổi hay trước đó (tức tuổi thiếu niên), để sau này khi bị mất xương thì chúng ta vẫn còn ở mức độ an toàn.


    Hai yếu tố quan trọng nhất để tối đa hóa mật độ xương lúc còn trẻ là vận động thể lựcdinh dưỡng. Trái lại với nhiều người nghĩ xương là cái gì cố định, xương thật ra là một mô rất năng động. Các tế bào trong xương được tạo ra, chết đi và tái tạo gần như hàng phút đồng hồ (rất đúng với triết lí "vô thường" của Nhà Phật). Khi chúng ta vận động cơ thể thì các tế bào xương cũng vận động nhịp nhàng theo, chúng tạo ra xương mới và làm cho xương chắc và mạnh. Các bạn có để ý thấy khi các phi hành gia bay vào vũ trụ, chỉ trong vòng 2 tuần, họ có thể mất đến 15-30% mật độ xương! Khi họ trở về trái đất, họ phải được khiêng, chứ nếu để họ đi thì sẽ bị gãy xương! Lí do là vì trong môi trường thiếu trọng lực, các tế bào trong xương gần như ... lười biếng, không "làm việc" và do đó xương bị suy giảm rất nhanh.  Tương tự, các bệnh nhân đột quị cũng mất rất nhiều xương vì thiếu vận động. Do đó, vận động cơ thể là "liều thuốc" hết sức quan trọng để xây dựng bộ xương chắc và mạnh.


    Yếu tố thứ hai là dinh dưỡng. Xương được làm từ nhiều chất, nhưng chủ yếu là calcium, phosphorus, và collagen. Chúng ta hay nghe nói rằng 99% lượng calcium trong cơ thể nằm ở bộ xương (và răng), và điều này đúng, nhưng calcium chỉ chiếm khoảng 60-65% trong xương. Nói ngắn gọn, calcium là thành tố quan trọng nhất của xương. Do đó, phương cách ăn uống phải làm sao đảm bảo đủ calcium. và vitamin D. Tại sao vitamin D? Bởi vì vitamin D là hormone cần thiết để hấp thu calcium (thiếu vitamin D thì cơ thể chúng ta sẽ thải calcium qua đường nước tiểu và mồ hôi). Do đó, chúng ta cần caclium và vitamin D. Mỗi ngày, cơ thể chúng ta cần khoảng 1000 mg calcium.


    Vậy câu hỏi đặt ra là thức ăn nào giàu chất calcium? Câu trả lời đơn giản (nhưng khó cho người Việt chúng ta) là sữa. Sữa là nguồn calcium lớn nhất. Sữa ở đây cũng bao gồm da-ua (yogurt), cheese, hay nói chung là các sản phẩm làm từ sữa bò. Ngoài ra, còn có rau xanh như rau dền, cải rổ, đậu phọng, v.v. cũng có nhiều calcium. Cá chạch, cá tuyết, cá mòi, cá hồi cũng hàm chứa nhiều calcium.


    Để có đủ vitamin D, nguồn tốt nhất là ... mặt trời. Mỗi ngày chỉ cần phơi nắng khoảng 10 phút vào buổi sáng (không phải buổi chiều) là cơ thể có thể hấp thu đủ vitamin D. Các chuyên gia khuyến cáo rằng chúng ta cần khoảng 600 IU (IU là đơn vị quốc tế) vitamin D mỗi ngày.


    Đối với đàn ông Việt Nam, một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sức khỏe xương là hút thuốc lá. Thuốc lá là thủ phạm của rất nhiều bệnh như tim mạch, tiểu đường, ung thư, nhưng nó cũng chính là thủ phạm nguy hiểm cho xương. Để ý thấy những người hút thuốc lá thường ốm tong teo, vì xương của họ cũng "ốm" như vậy. Mật độ xương của người hút thuốc lá thấp hơn người không hút thuốc lá khoảng 15-20%. Họ cũng hay bị gãy xương cột sống mà họ không biết! Hiện nay, có khoảng 50% thanh niên và trung niên người Việt hút thuốc lá và đó là một tỉ lệ quá cao. Do đó, nếu còn trẻ và nếu đang "ngó trên tay điếu thuốc đã lụi dần" thì tôi khuyên các bạn là cho nó lụi luôn, chứ đừng thi vị hóa thuốc lá nữa.


    Duy trì luyện tập thể dục, ăn uống đủ dinh dưỡng chất calcium và vitamin D, và bỏ hút thuốc lá là những lựa chọn hữu hiệu nhất để phòng ngừa loãng xương ở mọi độ tuổi. Những biện pháp này nằm trong tầm tay của chúng ta, chứ không cần đến thuốc. Không nên và không bao giờ ỷ lại vào thuốc để xây dựng bộ xương chúng ta. Thật ra, một số thuốc (như corticosteroid chẳng hạn) rất có hại cho xương. Do đó, cần phải hiểu rõ hay tìm hiểu để biết thuốc nào có hại và thuốc nào không gây tác hại cho xương, chứ không nên dùng thuốc một cách bừa bãi.


    Làm sao biết bị loãng xương?

    Cách hay nhất là đo mật độ xương bằng máy DXA. Ở Việt Nam một số bệnh viện lớn và bệnh viện cấp tỉnh cũng đã có máy DXA. Vị trị đo là xương cột sống và xương đùi. Phương pháp DXA dùng hai tia năng lượng scan các vị trí xương vừa kể và dựa vào nguyên lí vật lí, máy có thể tính toán chính xác mật độ xương của một cá nhân. Mật độ xương, như tên gọi, được tính bằng đơn vị gram trên mỗi cm^2. Bởi vì mật độ xương thay đổi theo độ tuổi, nên người ta phải chuẩn hóa bằng cách so sánh với mật độ xương ở tuổi "thanh xuân" (20-30), và kết quả là chỉ số T (hay T-score).


    Chẩn đoán loãng xương là dựa vào chỉ số T. Một cá nhân có chỉ số T bằng -2 thì kết quả này có nghĩa là mật độ xương của cá nhân đó giảm 2 độ lệch chuẩn so với mật độ xương lúc tuổi thanh xuân. Khi chỉ số T giảm thấp hơn hay bằng -2.5 thì cá nhân đó được chẩn đoán là "loãng xương" (osteoporosis). Nguyên lí thì đơn giản, nhưng đòi hỏi người bác sĩ phải biết đọc DXA scan và quan trọng hơn là người radiographer phải biết đo mật độ xương (có nhiều người chưa qua huấn luyện nên đo sai qui trình).


    Máy DXA của hãng Hologic 

    Nhưng ở Việt Nam còn nảy sinh một vấn đề khác về chẩn đoán. Như trình bày trên, chẩn đoán loãng xương dựa vào chỉ số T, mà chỉ số T dựa vào giá trị tham chiếu ở độ tuổi 20-30. Nhiều máy DXA ở Việt Nam dùng giá trị tham chiếu của người Mĩ hay Âu châu (và họ có mật độ xương cao hơn người Việt), do đó rất nhiều người Việt bị chẩn đóan loãng xương dù trong thực tế họ không bị!


    Trong một nghiên cứu ở Sài Gòn, chúng tôi ước tính rằng nếu dùng giá trị tham chiếu của Mĩ, có khoảng 44% phụ nữ Việt bị loãng xương, nhưng nếu dùng giá trị tham chiếu của người Việt thì chỉ 29% là loãng xương (2). Ở nam giới, dựa vào giá trị tham chiếu của Mĩ, gần 30% bị loãng xương; nhưng nếu dùng giá trị tham chiếu của người Việt chỉ 10% là loãng xương. Điều này có nghĩa là cần phải cẩn thận với những chẩn đoán loãng xương mà các bệnh viện đưa ra, vì có thể (chỉ "có thể" thôi) họ dùng giá trị tham chiếu chưa thích hợp và dẫn đến chẩn đoán sai và điều trị không cần thiết.


    Vấn đề siêu âm  


    Ở Việt Nam, có một số nơi (bệnh viện công và cả các trung tâm y tế tư nhân) cung cấp dịch vụ chẩn đoán loãng xương bằng máy siêu âm. Máy siêu âm đo tốc độ âm thanh xuyên qua xương (gọi là SOS – speed of sound) hay các chỉ số tính toán từ SOS, và thậm chí ước tính cả mật độ xương. Sự phát triển máy siêu âm là một tiến bộ đáng kể trong chuyên ngành xương.


    Tuy nhiên, không thể dùng máy siêu âm để chẩn đoán loãng xương. Cho đến nay, máy siêu âm chủ yếu dùng trong nghiên cứu khoa học là chính. Nhiều nghiên cứu, kể cả nghiên cứu của chúng tôi, chỉ ra rằng SOS có mối tương quan đến mật độ xương đo bằng máy DXA, nhưng hệ số tương quan chỉ khoảng 0.5 đến 0.6, tức là chưa đủ "mạnh" để thay thế máy DXA. Trong thực tế thì một số người có SOS thấp cũng có thể là loãng xương, nhưng đó chỉ là một số nhỏ. Do đó, các chuyên gia trong ngành không khuyến cáo dùng siêu âm cho chẩn đoán loãng xương. Dùng máy siêu âm để định bệnh loãng xương và dùng thuốc là sai qui trình và không đúng với qui định trong chuyên ngành loãng xương.


    Cái mới 1: Đo lường cấu trúc độ xương


    Đo lường xương là một vấn đề, một thách thức lớn không chỉ cho y khoa mà còn cho chuyên ngành vật lí ứng dụng. Như nói trên, tiêu chuẩn vàng hiện nay là mật độ xương đo bằng máy (hay đúng ra là "công nghệ") DXA. Công nghệ DXA có thể đo mật độ xương tính trên mỗi cemtimet vuông (cm2) của xương quan tâm. Nhưng vấn đề ở đây là: xương là một thực thể 3 chiều (ngang, dọc, sâu). Do đó, cách đo của DXA tuy có ích, nhưng không phản ảnh đúng thực chất xương. Chỉ số đúng phải là mật độ xương tính trên thể tích (tức gram trên cemtimet khối, cm3).


    Trong thời gian gần đây, một công nghệ mới ra đời để đo xương ba chiều: quantitative computed tomography (QCT), tức chụp cắt lớp. Công nghệ QCT không chỉ có khả năng đo mật độ xương thật (g/cm3), mà còn đo được mật độ xương xốp (trabecular bone) và xương đặc hay xương vỏ (cortical bone). Đây là tiến bộ quan trọng, vì xương chúng ta có thể chia thành hai nhóm, xương xốp và xương đặc, và cấu trúc của hai loại xương này khác nhau giữa các cá nhân, và chính cấu trúc này ảnh hưởng đến sức mạnh và sức bền của xương. Do đó, đo được và phân biệt hai loại xương này là một tiến bộ rất thiết thực cho lâm sàng.


    Máy pQCT XLT 3000 của hãng Stratec (Đức) 

    Hiện nay, có hai loại máy QCT với hai giá rất … khác nhau. Máy đắt tiền là HRpQCT (HR viết tắt của chữ "High Resolution") giá khoảng nửa triệu USD. Máy ít đắt tiền hơn là pQCT, giá khoảng 80,000 đến 100,000 Euro. Cả hai máy này chỉ đo được xương tay và xương chân, chứ chưa đo được xương cổ xương đùi. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy pQCT có thể rất có ích trong việc đánh giá loãng xương ở bệnh nhân tiểu đường và suy thận (vì ở hai nhóm bệnh nhân này, máy DXA sẽ cho ra kết quả thiếu chính xác và không có ý nghĩa lâm sàng). Ở Việt Nam, lab chúng tôi có máy pQCT hiện đang dùng cho nghiên cứu.


    Cái mới 2: Tiên lượng gãy xương


    Sau khi đã điểm qua vài cái cũ, bây giờ chúng ta sẽ bàn về cái mới. Nói đúng ra là chẳng có cái gì mới dưới bầu trời này, nhưng nếu soi rọi cho kĩ thì vẫn có cái mới chút chút. Trong chuyên ngành loãng xương quả thật là có nhiều cái mới như thế, và những cái mới này dĩ nhiên đều xuất phát từ nghiên cứu khoa học. Một xu hướng mới trong chuyên ngành loãng xương là chuyển từ đánh giá dựa trên 1 yếu tố sang đánh giá dựa trên đa yếu tố qua việc dùng các mô hình tiên lượng.


    Lí do đằng sau xu hướng này là vấn đề của mật độ xương (MĐX hay bone mineral density). Từ trước đến nay chúng ta đánh giá và chẩn đoán loãng xương dựa vào MĐX. Khi MĐX giảm xuống -2.5 độ lệch chuẩn so với lúc tuổi thanh xuân thì cá nhân đó được chẩn đoán là loãng xương. Điều trị những bệnh nhân này (loãng xương) có hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương. Như vậy là mối liên hệ giữa suy giảm MĐX và gãy xương là mối liên hệ nhân quả. Tuyệt!


    Nhưng càng già, chúng ta càng ... khôn hơn. Mấy năm gần đây, nhiều nhóm (kể cả nhóm chúng tôi đầu tiên) chất vấn về vấn đề chẩn đoán loãng xương dựa vào MĐX. Vấn đề là hơn 50% nữ và 70% nam bị gãy xương nhưng họ không bị loãng xương (tức MĐX của họ bình thường). Tính toán cho thấy chỉ có khoảng 20% ca gãy xương là do loãng xương. Vậy thì câu hỏi đặt ra là yếu tố nào khác (ngoài MĐX) làm cho người ta bị gãy xương? Trả lời câu hỏi này đòi hỏi phải có nghiên cứu theo thời gian, và may mắn thay chúng ta đã có nhiều nghiên cứu như thế. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ngoài MĐX, còn có 3 yếu tố khác: té ngã, tiền sử gãy xương, và ... cao tuổi. Khoảng 90% ca gãy cổ xương đùi là do té ngã. Người đã từng bị gãy xương có nguy cơ bị gãy lần thứ hai rất cao, cao từ  2 đến 5 lần. Cao tuổi, cho dù có mật độ xương bình thường, cũng tăng nguy cơ gãy xương rất nhanh. Do đó, dựa vào MĐX để chẩn đoán loãng xương là quá đơn giản và dễ dẫn đến sai sót trong việc nhận dạng các cá nhân có nguy cơ cao.


    Mô hình tiên lượng gãy xương FRAX

    Một cách để nhận dạng các cá nhân có nguy cơ cao là dùng mô hình tiên lượng (predictive model). Ý tưởng này chẳng có gì mới, vì bên ung thư học và tim mạch học họ đã dùng khá lâu. Nhưng đối với chuyên ngành xương thì hoàn toàn mới. Năm 2007, chúng tôi công bố mô hình tiên lượng đầu tiên, và lúc đó người ta gọi là "Nguyen's model" (Nguyen ở đây là Bs "Nguyễn Đình Nguyên", tác giả đầu của công trình), nhưng sau này có lẽ người ta không thích chữ đó (và có phần tranh công) nên gọi dài thòng là "Garvan Fracture Risk Calculator" (3). Một năm sau (2008) nhóm bên Đại học Sheffield công bố mô hình FRAX với 12 yếu tố (4). Nhóm Sheffield họ nói rằng họ là người của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và mô hình của họ được WHO phê chuẩn, nên họ có lợi thế hơn chúng tôi về mặt quảng bá. Nhưng năm ngoái, WHO đã ra thông báo nói rằng nhóm Sheffield không phải là người của WHO và WHO cũng không phê chuẩn FRAX bao giờ.


    Mô hình tiên lượng gãy xương Garvan Fracture Risk Calculator 

    Về mặt khoa học, hai mô hình GFRC và FRAX có giá trị tiên lượng gần bằng nhau, nhưng GFRC thì chính xác hơn. Trong một nghiên cứu ở New Zealand, các tác giả trình bày kết quả cho thấy mô hình Garvan tiên lượng gần như 100% các ca gãy xương, nhưng FRAX chỉ nhận dạng được khoảng 50% ca gãy xương. Nghiên cứu ở Việt Nam (báo cáo năm ngoái trong hội nghị loãng xương lần thứ 10) cũng cho ra kết quả như ở New Zealand. Tôi nghĩ công bằng mà nói thì FRAX phổ biến hơn GFRC, nhưng về khoa học thì hầu như ai cũng ghi nhận GFRC mang tính khoa học và minh bạch hơn FRAX.


    Với hai mô hình này, bác sĩ (và bệnh nhân) chỉ cần nhập vài dữ liệu vào một website và mô hình sẽ cho ra dự báo về nguy cơ gãy xương trong 5 năm hay 10 năm. Dựa vào nguy cơ này mà bác sĩ có thể quyết định điều trị hay không. Do đó, tiên lượng gãy xương có thể xem là một phát triển mới quan trọng trong chuyên ngành loãng xương học.



    Cái mới 3: RANK và RANKL và denosumab


    Một trong những cái mới được bàn luận nhiều nhất trong thời gian gần đây là khám phá hệ thống RANK (receptor activator of nuclear factor-kappaB) và RANK ligand (viết tắt là RANKL)/OPG vào cuối thập niên 1990 (5). OPG là viết tắt của chữ osteoprotegerin. Trước đây (tức trước thập niên 1990) chúng ta biết rằng yếu tố kiểm soát các tế bào hủy xương là các tế bào stromal (tức là các tế bào nối kết). Nhưng sau này, chúng ta biết rằng các "thành viên" trong gia đình Hệ RANKL/RANK có vai trò kiểm soát và điều chế qui trình chu chuyển xương. Ngược lại, OPG thì bảo vệ xương bằng cách ức chế các tế bào hủy xương. Do đó, tỉ số RANKL/OPG có thể xem là một chỉ số sức khỏe của xương. Ngoài vai trò trong xương, RANKL/OPG còn có ảnh hưởng đến các tế bào ung thư.


    Xin nhắc lại rằng RANKL nối kết với RANK để sản xuất và kích hoạt các tế bào hủy xương, còn OPG thì ngăn chận RANKL. Khi các nhà khoa học knock-out RANK trong chuột thì các tế bào hủy xương suy giảm, và chuột con mới sinh ra không sống sót được. Khi chuột không có RANK/RANKL thì vú không sản xuất sữa và chuột con dễ chết. Thật ra, nếu con người không có RANK/RANKL thì con người khó sống sót. Điều này nói lên rằng RANK/RANKL đóng vai trò rất quan trọng không chỉ trong xương mà còn cho sự sống của con người.


    Cơ chế của denosumab 
    (https://healthplexus.net/article/bone-biology-and-role-rankranklopg-pathway)

    Nắm được cơ chế của RANKL/OPG, thì việc bào chế thuốc để điều trị loãng xương là điều tất yếu. Thuốc denosumab là một kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody) do công ti Amgen sản xuất. Denosumab được thiết kế để ngăn chận sự hình thành các tế bào hủy xương, hoặc tiêu diệt các tế bào "bad guys" này (6). Nghiên cứu trên bệnh nhân loãng xương cho thấy denosumab giảm nguy cơ gãy xương cột sống đến 68%, một hiệu quả chưa thấy trước đây đối với các thuốc khác. Ngoài ra, denosumab xem ra còn có hiệu quả giảm mất xương ở bệnh nhân ung thư. Nói tóm lại, nhờ vào hiểu cơ chế của RANKL/OPG mà chúng ta có một thuốc mới rất có hiệu quả để điều trị loãng xương.


    Cái mới 4: osteocyte


    Một trong những phát hiện "mới" nhất mà tôi nghĩ cần phải đề cập ở đây là osteocytemà tôi dịch là "xương bào". Nhưng để hiểu câu chuyện xương bào, chúng ta cần phải điểm qua sinh học xương. Từ trước đến thời gian gần đây, chúng ta biết rằng có hai loại tế bào chính liên quan đến xương: tế bào tạo xương (osteoblast, OB) và tế bào hủy xương (osteoclast, OC). Như tên gọi, việc làm của OB là tạo ra xương mới, còn OC là hủy xương. Hai nhóm tế bào tạo xương và hủy xương làm việc liên tục trong một qui trình gọi là "bone remodeling", có thể hiểu là "chu chuyển xương". Qui trình bày bắt đầu bằng tế bào hủy xương OC đục bỏ những xương cũ trên bề mặt của xương, sau đó tế bào tạo xương được kích hoạt và lấp vào những xương đã bị đục bỏ. Qui trình này vận hành liên tục suốt cuộc đời chúng ta để thích ứng với môi trường mới hay áp lực mới mà cơ thể gặp phải.


    Các yếu tố kiểm soát chu trình chuyển hóa xương thì có nhiều, nhưng chủ yếu là hormone tuyến cận giáp (parathyroid hormone hay PTH), hormone tuyến giáp, calcitriol, và hormone sinh dục (như estrogen). Ngoài ra, các yếu tố khác như insulin-like growth factors (IGFs), prostaglandins, tumor growth factor-beta (TGF-beta), và bone morphogenetic proteins (BMP), thậm chí cytokines cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát qui trình chuyển hóa xương.


    Osteocytes
    (nguồn: Pajevic, IBMS BoneKEy 2009; 6:63-70) 


    Trong thời gian chúng ta còn trẻ, các tế bào này làm việc nhịp nhàng với nhau, và lượng xương được thay thế bằng xương bị đục bỏ. Nhưng khi chúng ta về già thì các tế bào hủy xương hoạt động mạnh hơn các tế bào tạo xương, và dẫn đến tình trạng bị mất xương. Do đó, các thuốc điều trị loãng xương trong thời gian qua được phát triển chủ yếu là ức chế các tế bào hủy xương. Các thuốc này chủ yếu nằm trong nhóm bisphosphonates, mà nổi tiếng nhất có lẽ là alendronate, risedronate và zoledronate.


    Nhưng khoảng 15 năm trước, các nhà khoa học phát hiện một loại tế bào khác trong xương: osteocyte - xương bào (7). Xương bào là tế bào phổ biến nhất và nhiều nhất trong xương. Tính chung, số xương bào chiếm hơn 90% số tế bào trong xương, cao hơn rất nhiều lần so với số tế bào tạo xương và tế bào hủy xương. Xương bào có "đời sống" khá cao. Thời gian bán hủy của xương bào là 25 năm, so với "tuổi thọ" của tế bào tạo xương chỉ 3 tháng.


    Xương bào xuất phát từ đâu? Câu trả lời đơn giản là chúng có nguồn gốc từ các tế bào tạo xương! Chúng nằm phía dưới xương, trong tủy (chứ không phải trên mặt xương), và đó là lí do sao người ta khó khám phá ra chúng. Nhưng bằng cách nào và cơ chế gì mà tế bào tạo xương cho ra đời xương bào thì vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ, hay nói đúng hơn là chưa ai biết.


    Cái mới 5: sclerostin và romosozumab


    Hoạt động của xương bào có liên quan đến một protein khác, cũng có thể xem là "mới", trong khoa học xương. Tôi muốn nói đến sclerostin (8). Sau khi được tiết ra từ xương bào, sclerostin kết nhập với protein LRP5/6/4, và có chức năng ức chế hệ thống tín hiệu Wnt. Cần nhắc lại rằng hệ tín hiệu Wnt kiểm soát việc sản sinh các tế bào tạo xương và xương bào.


    Phát hiện sclerostin xuất phát từ những trường hợp bệnh hiếm sclerosteosis và hội chứng van Buchem. Sclerosteosis là một bệnh di truyền, hay thấy ở những người gốc Đức sống ở Nam Phi, với những đặc điểm chính là có chiều cao rất cao, một số ngón tay dính vào nhau (syndactyly), mật độ xương rất cao, vỏ xương rất dày, không khi nào bị gãy xương. Nguyên nhân của sclerosteosis là do đột biến gen SOST, nằm ở nhiễm sắc thể 17.


    Bệnh nhân sclerosteosis (nguồn: http://jmg.bmj.com/content/39/2/91)

    Hội chứng van Buchem được phát hiện lần đầu ở một số cư dân thuộc một làng chài bên Đức và Hà Lan. Những đặc điểm của van Buchem cũng khá giống như sclerosteosis, như mật độ xương rất cao, vỏ xương dày, nhưng ngón tay bình thường và chiều cao không cao như sclerosteosis. Nguyên nhân của hội chứng cũng là do đột biến gen SOST, nhưng ở vị trí khác với gen SOST của sclerosteosis. Tất cả bệnh nhân sclerosteosis và van Buchem có nồng độ sclerostin trong máu rất thấp hay thậm chí không phát hiện được.


    Sclerostin là "sản phẩm" của xương bào. Xin nhắc lại rằng ở cả hai nhóm bệnh nhân sclerosteosis và van Buchem (có mật độ xương cao) đều có nồng độ sclerostin rất thấp hay thậm chí không tìm thấy. Điều này có nghĩa là khi nồng độ sclerostin tăng thì tế bào tạo xương giảm và mật độ xương cũng suy giảm theo; ngược lại, khi sclerostin giảm thì các tế bào tạo xương kích hoạt và làm tăng mật độ xương. Khi thí nghiệm trên chuột bằng cách knock-out gen SOST thì rõ ràng là đúng với giả thuyết trên: giảm sclerostin làm tăng mật độ xương. Do đó, qua hiểu biết cơ chế này, sclerostin trở thành một mục tiêu để can thiệp và phát triển thành thuốc điều trị loãng xương. Nói cách khác, một cách để tăng mật độ xương và giảm nguy cơ gãy xương là làm giảm nồng độ sclerostin.


    Các công ti dược hiểu biết và nắm chắc cơ chế này của sclerostin, nên họ phát triển thuốc để ức chế sclerostin trong cơ thể. Công ti thành công nhất có lẽ là Amgen. Amgen là công ti sản xuất ra thuốc romosozumab như là một kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody) để điều trị loãng xương. Cơ chế của romosozumab là kết nhập với sclerostin, tăng tạo xương, và do đó romosozumab được xem là thuốc trong nhóm anabolic thứ hai (thuốc thứ nhất là PTH).


    Một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên để đánh giá romosozumab trên 7180 phụ nữ sau mãn kinh và loãng xương đã được thực hiện, và kết quả rất khả quan (9). Sau 12 tháng điều trị tỉ lệ gãy xương đốt sống ở nhóm romosozumab là 0.5%, so với 1.8% ở nhóm chứng, tức romosozumab giảm nguy cơ gãy xương đến 73%. Kết quả sau 2 năm điều trị cho thấy romosozumab giảm nguy cơ gãy xương cột sống 75%. Tuy nhiên, chứng cứ gãy xương ngoài cột sống (non-vertebral fracture) chưa được rõ ràng: nhóm romosozumab có tỉ lệ gãy xương 2.7% so với nhóm chứng là 3.6%. Nhưng những kết quả này cho thấy trong chuyên ngành loãng xương, chúng ta lại có thêm một loại thuốc mới có hiệu quả rất cao đề ngăn chận tình trạng mất xương và giảm nguy cơ gãy xương ở bệnh nhân loãng xương.


    Hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương của thuốc romosozumab (9). 

    Nghiên cứu về xương và loãng xương là một lĩnh vực hết sức hào hứng và có khả năng dẫn đến nhiều khám phá quan trọng. Cơ phận nào trong cơ thể cũng có cái hay và cái thú vị của nó, nhưng với tôi thì không có cơ phận nào tuyệt vời như xương. Xương được quá trình tiến hóa "thiết kế" một cách vô cùng tinh tế và tinh vi, nó không quá cứng mà cũng không quá mềm, nó bao gồm những tố chất sinh học vừa phải để có thể chịu đựng và tích ứng với môi trường, nó sống động và có đủ sự sống trong đó. Xương là cả một thế giới sinh quan. Ai xấu miệng nói xương là "boring" thì quả là đáng tội nghiệp cho họ!


    Ở Việt Nam, chúng tôi đã triển khai một nghiên cứu qui mô lớn với hơn 4000 người tham gia (10). Đây là một trong những dự án lớn nhất ở Á châu, và thu thập dữ liệu có chiều sâu mà không nghiên cứu nào ở Á châu có thể qua. Dự án này dựa trên viễn kiến tương lai về y học cá nhân hóa (personalized medicine) và có tham vọng giải mã toàn bộ hệ gen cho khoảng 200 người Việt cùng phân tích toàn bộ hệ exposome để khám phá các yếu tố có liên quan đến loãng xương và các bệnh lí liên quan ở người Việt. Chúng tôi cần khoảng 250,000 USD để thực hiện tham vọng trên.


    Tóm lại, nghiên cứu xương trong thời gian 15-20 năn qua đã dẫn đến một số phát hiện mới như hệ thống RANK/RANKL/OPG, osteocyte và sản phẩm của nó là sclerostin. Từ những khám phá này, chuyên ngành loãng xương có thêm một loại thuốc chống hủy xương (antiresorptive drug) mới là denosumab và một loại thuốc tạo xương mới là romosozumab. Hai loại thuốc này, theo tôi biết, chưa có trên thị trường Việt Nam, nhưng hi vọng trong tương lai thì Amgen sẽ nghĩ đến thị trường vùng Đông Nam Á.


    ===


    Tham khảo:


    Tôi chỉ cung cấp một số tài liệu tham khảo chính, vì liệt kê một danh sách đầy đủ thì đòi hỏi vài trang giấy.


    (1) Định nghĩa loãng xương:


    (2) Về vấn đề chẩn đóan loãng xương ở người Việt:


    (3) Mô hình Nguyen:


    (4) Mô hình FRAX:


    (5) Câu chuyện về khám phá RANK/RANKL/OPG:


    (6) Kết quả thử nghiệm thuốc denosumab


    (7) Câu chuyện về khám phá osteocyte:


    (8) Câu chuyện về sclerostin:


    (9) Kết quả thử nghiệm thuốc romosozumab


    (10) Dự án Vietnam Osteoporosis Study (VOS)

  • Tưởng nhớ một vị danh sư Giáo sư Y khoa Phạm Biểu Tâm

    Posted on: 20 July 2017, 2:47 am
    -->
    Tôi hân hạnh giới thiệu bài viết [của Nhà văn Ngô Thế Vinh] về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, nhân ngày tưởng niệm 100 năm ngày sinh của ông. Giáo sư Tâm là khoa trưởng Khoa Y của Trường Đại học Y Dược Sài Gòn (1955). Sau năm 1975 ông sang sống ở Mĩ và qua đời vào năm 1999. Bài viết không chỉ nói lên cái tài và đức độ của môt vị danh sư, mà còn cung cấp nhiều chi tiết mang tính sử liệu về sự hình thành trường y Sài Gòn và những hợp tác với các đồng nghiệp Mĩ.




    Tìm lại thời gian đã mất: Tưởng nhớ một vị danh sư Giáo sư Y khoa Phạm Biểu Tâm


    NGÔ THẾ VINH


    Đây là bài mới bổ sung cho một bài viết khởi đầu chỉ là hồi tưởng và những kỷ niệm rất riêng tư với Giáo sư Phạm Biểu Tâm nhân dịp lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh của một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước.


     
    Hình 1: Giáo sư Phạm Biểu Tâm tại Bệnh viện Bình Dân (1960), mỗi buổi sáng cùng các nội trú và sinh viên đi thăm trại bệnh trước khi vào phòng mổ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm*]  

          

    ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ


          Giáo sư Phạm Biểu Tâm sinh ngày 13 tháng 12 năm 1913 tại Thừa Thiên, Huế; mất ngày 11 tháng 12 năm 1999 tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.


          Vào cuối đời, thầy Tâm cho biết thực sự thầy gốc người Nam Bộ, sinh ra và lớn lên tại miền Trung.  Sau đây là thông tin từ người em ruột Gs Phạm Biểu Tâm, Băng-sĩ Phạm Hữu Nhơn nguyên là một tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH từ Falls Church, Virginia gửi cho Bông, tức tên gọi ở nhà của Phạm Biểu Trung, trưởng nam của thầy Tâm:


          “Bông thân mến, Cha cháu sinh ngày 13/12/1913. Quê quán làng Nam Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình khoa bảng. Cụ cố là Tổng binh Phạm Tấn, gốc miền Nam, quê quán làng Long Phú (Bến Lức, Gò Công), tỉnh Gia Định. Được vua Gia Long vời ra làm quan ngoài Bắc Hà (Ninh Bình và Nam Định). Cụ nội là Phạm Năng Tuần, tước hiệu Hàn Lâm Viên Đại Phu. Cụ khai khẩn và thành lập làng Nam Trung, tỉnh Thừa Thiên cho các quan gốc miền Nam ra Trung. Cụ thân sinh là Phạm Hữu Văn, thi đậu Tiến sĩ khoa Quí Sửu 1913. Làm quan tới chức Bố Chánh tỉnh Thanh Hóa, được thăng Thượng Thư Trị Sứ khi đã về hưu.”


          Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, trung học phổ thông tại Vinh, rồi trường Quốc Học Huế, và trường Bưởi Hà Nội.


          Suốt thời tuổi trẻ, Giáo sư Phạm Biểu Tâm đã là một hướng đạo sinh, rất hoạt động trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của đất nước. Ông gia nhập tráng đoàn Lam Sơn của Hoàng Đạo Thúy, từ những năm 1930 từng tham dự khóa huấn luyện Tráng tại Bạch Mã, Huế. Có thể nói suốt cuộc đời, ông vẫn gắn bó với phong trào hướng đạo Việt Nam và vẫn cứ mãi là một tráng sinh lên đường. Không chỉ là nội trú lâu năm nhất ở Bệnh viện Phủ Doãn, theo Gs Trần Ngọc Ninh: "Anh Tâm còn là Chủ tịch Hội Sinh viên Y khoa 1942, là cầu thủ Đội Bóng Rổ của Tổng Hội Sinh viên, đang là tuyển thủ hữu danh của Hội Thuyền Buồm Việt Nam," (1)


          Năm 1932, thầy Tâm theo học Trường Y Khoa Hà Nội, sau Bác sĩ Tôn Thất Tùng một năm. Sau khi tốt nghiệp y khoa, vẫn tiếp tục tình nguyện ở lại làm Nội Trú Bệnh Viện thêm 8 năm. Mãi tới năm 1947 mới trình luận án Tiến Sĩ Y Khoa với đề tài mang tính văn hoá: “Introduction de la Médecine Occidentale en Extrême-Orient / Sự Du Nhập của Y học Tây Phương sang Viễn Đông”.


           Nói về đời sống gia đình, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã kết hôn với Bà Công Tằng Tôn Nữ Tuyết Lê vào năm 1944, nguyên là nữ sinh trường Đồng Khánh rất cấp tiến. Thầy Cô có năm người con, ba trai hai gái theo thứ tự: Phạm Biểu Trung, Phạm Biểu Chí, Phạm Biểu Kim Hoàn, Phạm Biểu Kim Liên và Phạm Biểu Tình nhưng tên gọi ở nhà thì chỉ là tên các vật liệu trong phòng mổ: Bông, Gạc, Băng, Kim, Chỉ. Thầy cô còn có thêm một dưỡng nữ Trần Thị Hồng.


     

    Hình 2a,b: Thầy Cô Phạm Biểu Tâm tại căn nhà đường Ngô Thời Nhiệm (1970); và 5 người con với tên gọi ở nhà: Bông, Gạc, Băng, Kim, Chỉ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm] 

          

          Năm 1948, Giáo Sư Phạm Biểu Tâm trúng tuyển kỳ thi Thạc Sĩ Y Khoa [Professeur Agrégé des Universités] tại Paris, đồng thời với Giáo sư Trần Quang Đệ cũng là một bác sĩ phẫu thuật lừng danh tại Bệnh viện Chợ Rẫy sau này. Trở về nước, thầy Tâm tiếp tục giảng dạy tại Đại Học Y Khoa Hà Nội kiêm Giám Đốc Bệnh Viện Yersin hay còn gọi là Nhà Thương Phủ Doãn cho đến ngày ký kết Hiệp định Genève 1954 phân đôi đất nước.  


     
    Hình 3: Gs Phạm Biểu Tâm (trái) và Bs chuyên khoa Ung thư Nguyễn Xuân Chữ đi dự Tuần lễ Ung Thư / Semaine Du Cancer (1950) tại Pháp, phía sau là tấm poster tiếng Việt với slogan: Ung thư càng để lâu bao nhiêu càng kém hy vọng khỏi bấy nhiêu. Hãy đến khám tại Cơ quan Trung ương Việt Nam Trừ Ung thư tại Bệnh Viện Yersin Hà Nội. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]    


     
    Hình 4: Buổi trình luận án tại Đại học Y Khoa Hà Nội (1952) của Bs tân khoa Nguyễn Tấn Hồng, với Giáo sư Phạm Biểu Tâm trong Hội đồng Giám khảo. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]  


          Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, cũng khởi đầu ngành Quân Y Việt Nam 1951, Gs Phạm Biểu Tâm có thời gian đảm trách chức vụ Phó Giám Đốc Trường Quân Y với cấp bậc Trung Tá.


          Năm 1954, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã cùng gia đình di cư vào Nam, được đề cử làm Giám Đốc Bệnh Viện Bình Dân mới xây cất xong trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, đồng thời cũng là Trưởng Khu Ngoại Khoa tại bệnh Viện này. Đa số nhân viên y tế từ nhà thương Phủ Doãn di cư vào Nam đều trở lại làm việc tại bệnh viện Bình Dân. Đây cũng là một bệnh viện giảng huấn trực thuộc trường Đại Học Y Nha Dược duy nhất của Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. 


          Khi Đại Học Hỗn Hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam [11.05.1955], Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm được đề cử làm Khoa Trưởng, và là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Y Dược Sài Gòn [Faculté Mixte de Médecine et Pharmacie].



     
    Hình 5: Giáo sư Phạm Biểu Tâm Khoa Trưởng Y Khoa Sài Gòn (trái) và Linh Mục Cao Văn Luận Viện Trưởng sáng lập của Viện Đại Học Huế từ 1957, đi dự một Hội nghị Quốc tế về Giáo Dục. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]  


     

    Hình 6: Hội Đồng Khoa, với một số giáo sư trong Ban Giảng Huấn Đại Học Y Khoa Sài Gòn: từ trái, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Trịnh Văn Tuất, Gs Trần Vỹ, Gs Caubet, Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Huard, Gs Trần Đình Đệ, Gs Nguyễn Đình Cát, Gs Nguyễn Hữu, Gs Ngô Gia Hy. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]  


     
    Hình 7: Sau buổi trình luận án của 2 Bs tân khoa: Nguyễn Khắc Minh, Đào Hữu Anh tại Đại học Y Khoa Sài Gòn (1960); với Hội đồng Giám khảo, hàng trước từ trái: Giáo sư Nguyễn Hữu, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Giáo sư Trần Đình Đệ, Giáo sư Trịnh Văn Tuất. (Bs Nguyễn Khắc Minh, Bs Đào Hữu Anh, cả hai đều trở thành giáo sư của trường Y Khoa sau này). [nguồn: hình tư liệu của Gs Nguyễn Khắc Minh]


          Năm 1962, Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ / American Medical Association [AMA] đã viện trợ một ngân khoản lớn cho Việt Nam để xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với tiêu chuẩn hiện đại tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, gồm một Trường Y Khoa [giai đoạn I] và một Bệnh Viện thực tập [giai đoạn II]. Lễ đặt viên đá đầu tiên do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.


     
    Hình 8a: Lễ đặt viên đá đầu tiên (1962) xây cất Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn; từ trái: Gs Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Gs Nguyễn Quang Trình, Gs Lê Văn Thới; đứng phía sau là Đại sứ Mỹ Frederick E. Nolting, Jr.   


    Hình 8b: Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tại đường Hồng Bàng; hàng trước từ trái: Gs Phạm Biểu Tâm, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, Gs Nguyễn Quang Trình, Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn. Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa được khánh thành 3 năm sau 1966. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]  


          Sau biến cố 1963, Gs Phạm Biểu Tâm tiếp tục ở lại với Trường Y Khoa cho đến tháng 3 năm 1967, khi tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương đã đơn phương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Khoa Trưởng của Gs Phạm Biểu Tâm để thay thế bằng một Uỷ ban 5 người, đây cũng là lần đầu tiên ở miền Nam chính trị can thiệp vào nền tự trị đại học. Từ nhiệm chức Khoa trưởng, thầy Tâm vẫn cứ ẩn nhẫn, tiếp tục công việc của một Giáo sư Giải phẫu, giảng dạy và điều trị mổ xẻ tại Khu Ngoại Khoa B Bệnh viện Bình Dân.


          Cùng lúc với Dự án của Hiệp Hội Y khoa Hoa Kỳ / AMA Project, kết hợp với trường Y khoa Sài Gòn để cải tiến các bộ môn từ khoa học cơ bản tới các khoa lâm sàng như nội khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, giải phẫu, gây mê, quang tuyến... với kế hoạch vừa huấn luyện tại chỗ vừa gửi nhân viên giảng huấn sang tu nghiệp tại các Đại học Hoa Kỳ. Đây là giai đoạn thầy Tâm đã bỏ ra rất nhiều công sức để phát triển chương trình đào tạo thêm nhân viên giảng huấn Khoa Giải phẫu cho trường Y khoa.  

        

           Sự hợp tác giữa giáo sư Henry Bahnson danh tiếng từ Đại học Pittsburgh và Gs Phạm Biểu Tâm tại Bệnh viện Bình Dân được coi là thành công nhất trong số những chương trình được AMA bảo trợ.


     
    Hình 8c,d: Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn hoàn tất 3 năm sau (giai đoạn I), việc xây dựng một Bệnh viện Thực Tập hiện đại (giai đoạn II) phải ngưng vì những biến động chính trị cho tới 1975. [nguồn: internet]



          Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, tên tuổi của một học viên Bs Nghiêm Đạo Đại sau này đã trở thành một giáo sư phẫu thuật lừng danh trong chuyên khoa thay ghép / transplant tuỵ tạng-gan-thận ở Đại học MCP Hahnemann / Drexel, Pittsburgh nhưng anh Đại thì trước sau vẫn không quên ơn thầy. Anh viết: " Tôi đã thấm nhập những điều dậy dỗ của “lò Bình Dân”. Quả như vậy, sau khi vào ban giảng huấn Đại học Iowa bảy năm, trường Medical College of Pennsylvania / Hahneman / Drexel Pittsburgh hơn hai thập niên, tôi đã cảm nhận được là mình có phước rất lớn được học những tinh túy của các Thầy ở bệnh viện Bình Dân. Các Thầy đã trao cho tôi một hành trang đầy đủ để sử dụng trong suốt cuộc đời đi dậy học." (2)



     
    Hình 9: Giáo sư Phạm Biểu Tâm tới thăm một Trung Tâm Y Khoa tại Minnesota (1960s), như bước khởi đầu hoà nhập hai hệ  giáo dục Y khoa Pháp và Mỹ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

       


     
    Hình 10: Tiếp tân tại tư gia thầy Tâm cho buổi học Hậu Đại học Khoá 1972 từ trái: Bs Steven Reeder, Gs Phạm Biểu Tâm, Văn Kỳ Chương, Nguyễn Hữu Chí, Phan Văn Tường, Gs Anatolio Cruz, Gs Norman Hoover, Gs Đào Đức Hoành, Gs Phan Ngọc Dương, Văn Kỳ Nam, Lê Quang Dũng, Nguyễn Khắc Lân, Nguyễn Tiến Dỵ, Văn Tần, Nguyễn Đỗ Duy. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]     


          Sau biến cố 1975, mặc dù phải sinh hoạt trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, phải sống với bên thắng cuộc chỉ biết chuộng "hồng hơn chuyên."


    Giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn sống hết lòng cho y nghiệp, thương mến chăm sóc bệnh nhân không phân biệt giàu nghèo, hay màu sắc chính trị nào. Thầy Tâm tiếp tục công việc dìu dắt giảng dạy nhiều thế hệ sinh viên y khoa. Như từ bao giờ, thầy Tâm thâm trầm, nhưng cương nghị, làm nhiều và ít nói. Trong nghịch cảnh, thầy không bao giờ biểu lộ sự giận dữ, vẫn nhỏ nhẹ nhưng thâm thuý và sâu sắc, câu nói giản dị của thầy vẫn cứ mãi được truyền tụng trong đám môn sinh: "cố gắng làm việc, lấy chăm sóc bệnh nhân làm nhiệm vụ trước mắt của người thầy thuốc."


           Vẫn với kinh nghiệm của giới trí thức Hà Nội sau 1954, thuộc chế độ cũ, trước sau họ chỉ là thành phần được "lưu dung - không có dấu nặng" và không hề được tin cậy. Kinh nghiệm sau 1975 mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng trải qua, đó thực sự là một chặng đường đau khổ mà Giáo sư Hộ gọi đó là "những năm ảo vọng."


          Năm 1984, Giáo sư Phạm Biểu Tâm buộc phải nghỉ hưu ở tuổi 71 sau một cơn tai biến mạch máu não/ stroke với liệt nửa người trái. Không có cơ hội hồi phục, năm 1989 Giáo sư Phạm Biểu Tâm đã phải rời bỏ quê hương yêu dấu, nơi mà Giáo sư đã dâng hiến gần trọn cuộc đời cho người bệnh, cho nền y học Việt Nam, để sang đoàn tụ với các con tại Hoa Kỳ.


    MỘT CHÚT RIÊNG TƯ


          Những dòng chữ này được viết cách đây 4 năm nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Gs Phạm Biểu Tâm.


          Đây chỉ là hồi tưởng, ghi lại những kỷ niệm rất riêng tư với Gs Phạm Biểu Tâm – không phải từ trong các giảng đường hay bệnh viện mà là với một thầy Tâm ngoài đời thường. Trong suốt học trình y khoa, tôi chưa từng được là môn sinh gần gũi của Thầy nhưng lại cảm thấy rất thân thiết với Thầy trong các năm học và cả những năm đã rời xa trường Y khoa về sau này. Chỉ đảm nhiệm chức vụ Khoa trưởng 12 năm (1955-1967), nhưng dấu ấn ảnh hưởng của thầy Tâm trên các thế hệ môn sinh thì lâu dài hơn nhiều, kể cả những người chưa được học hay không biết mặt Thầy. (5)


          Chỉ còn 2 ngày nữa là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của giáo sư Phạm Biểu Tâm [13/12/1913]. 


          Hôm nay ngày 11 tháng 12, 2013 là ngày giỗ của Thầy, vậy mà cũng đã 14 năm rồi [11/12/1999], và khi thầy Tâm mất, gặp Cô để phân ưu, thì được Cô nhắc là anh Vinh có thể có một bài viết về Thầy. Vậy mà chưa làm được điều ấy thì Cô nay cũng đã mất.


          Tiểu sử giáo sư Phạm Biểu Tâm đã được bạn đồng môn Hà Ngọc Thuần từ Úc Châu tường trình khá đầy đủ – tưởng cũng nên ghi lại là anh Hà Ngọc Thuần đã cùng với anh Nghiêm Sĩ Tuấn từng là hai cây bút chủ lực của báo Y khoa Tình Thương, cùng biên soạn một công trình giá trị “Lịch Sử Y Khoa” với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên Tình Thương cho tới khi báo đình bản 1967. (3)


          Rất khác với vẻ uy nghi cao lớn của Gs Trần Quang Đệ, cũng là một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam, cùng trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ Y khoa tại Paris năm 1948, thầy Tâm có dáng nhỏ nhắn của một thư sinh, vẻ nhanh nhẹn của một tráng sinh, nét mặt thầy không đẹp nhưng ngời thông minh và có thể lột tả – theo ngôn từ của bạn đồng môn Đường Thiện Đồng thì “thầy có những nét của một quý tướng.”


          Trước khi bước vào trường Y khoa, đã được biết tiếng về tài năng và đức độ của Gs Phạm Biểu Tâm, được nghe nhiều giai thoại về Thầy ngoài đời thường. Thầy là một trong những tráng sinh đầu tiên của ngành Hướng đạo Việt Nam từ những năm 1930 như biểu tượng của một thế hệ dấn thân. Tuy không là cầu thủ nhưng Thầy lại rất hâm mộ môn bóng đá; bạn bè trong Đại học xá Minh Mạng kể lại, Thầy thường có mặt nơi khán đài bình dân trong sân banh Tao Đàn, như mọi người Thầy cũng tung nón hò hét sôi nổi để ủng hộ cho đội banh nhà.


          Đến khi được gặp, thì thấy thầy Tâm là một con người rất giản dị, tạo ngay được cảm giác gần gũi và tin cậy với người đối diện nhưng vẫn luôn có đó một khoảng cách dành cho sự kính trọng. Kỷ niệm của người viết với thầy Tâm như là những khúc phim đứt đoạn.


          Từ 1963 tới 1967 là một giai đoạn cực kỳ xáo trộn ở miền Nam với liên tiếp những cuộc biểu tình xuống đường và bãi khóa của sinh viên mà phân khoa đầu não là Y khoa, lúc ấy vẫn còn tọa lạc nơi ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp, Sài Gòn. Ở cương vị Khoa trưởng lúc đó thật khó khăn: thầy Tâm vừa phải duy trì sinh hoạt bình thường trong giảng đường và các bệnh viện mà vẫn tôn trọng tinh thần “tự trị đại học.”  Thầy luôn luôn bao dung chấp nhận đối thoại và cũng do lòng kính trọng Thầy, các nhóm sinh viên y khoa tranh đấu lúc đó đã hành xử có trách nhiệm, trừ số rất ít cộng sản nằm vùng thì manh động theo chỉ thị của Thành ủy.  Tình trạng thăng trầm của trường Y khoa trong cơn lốc chính trị với cả đổ máu ám sát tiếp tục kéo dài cho tới tháng Tư 1975.


     
    Hình 11: Gs Phạm Biểu Tâm nói chuyện với SVYK trong một giảng đường 28 Trần Quý Cáp, Sàigòn sau vụ Thầy bị bắt trước biến cố 1963. [nguồn: Life Magazine]


          Khi tờ báo Sinh viên Y khoa Tình Thương ra đời đầu năm 1964, ở cương vị khoa trưởng, Gs Phạm Biểu Tâm tỏ ra tâm đắc với manchette của tờ báo mang tên “Tình Thương” mà thầy cho rằng ý nghĩa rất phù hợp với chức năng của những người Áo Trắng và thầy có viết một bài éditorial trên Tình Thương để giới thiệu tờ báo. Không nhiều biểu lộ nhưng chúng tôi hiểu rằng báo Tình Thương luôn luôn được hỗ trợ tinh thần của Gs Khoa Trưởng. Tình Thương không chỉ là tờ báo của những cây bút sinh viên mà khá thường xuyên còn có bài viết của các giáo sư y khoa như Trần Ngọc Ninh, Trần Văn Bảng, Nguyễn Đình Cát, Ngô Gia Hy và Vũ Thị Thoa…


     
    Hình 12: Bìa Nguyệt san Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa, Số 1 ra mắt tháng 01.1964, và bị đình bản cuối 1967 với 30 số báo. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư; Thư Quán Bản Thảo]


          Sinh viên Y khoa tới ngày tốt nghiệp ra trường, dân y hay quân y thì đều phục vụ trong quân đội, với các binh chủng chọn lựa hay được chỉ định. Là những bác sĩ trong thời chiến nên trước sau đã có một số đồng nghiệp hy sinh như các anh Đoàn Mạnh Hoạch, Trương Bá Hân, Đỗ Vinh, Trần Ngọc Minh, Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhứt, Trần Thái, Lê Hữu Sanh, Nghiêm Sĩ Tuấn, Phạm Đình Bách… chưa kể một số bị chết trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, hay trên đường vượt biên sau này.


          Riêng những người chết hay mất tích khi vượt trại tù, ít nhất có hai bạn mà tôi quen biết: bác sĩ Nguyễn Hữu Ân Nha Kỹ Thuật cũng là dân Đại học xá Minh Mạng, cùng với bác sĩ Vũ Văn Quynh binh chủng Nhảy Dù là anh ruột của bác sĩ Vũ Văn Dzi hiện ở Oklahoma.  


          Rất riêng tư, tôi không thể không nhắc tới một Trần Ngọc Minh, anh sống khá trầm lặng những năm sinh viên trong Đại học xá  Minh Mạng, không những cùng dãy 7 mà còn ở ngay cạnh phòng tôi trong nhiều năm. Ra trường anh là một y sĩ Thủy quân Lục chiến, anh đã hy sinh trong một trận đánh khốc liệt tại thung lũng Việt An, tỉnh Quảng Tín 1965. Ít năm sau đó, một quân y viện mới trên đường Nguyễn Tri Phương ngay cạnh Trường Quân Y được khánh thành và mang tên anh.


          Xúc động nhất là cái chết của Nghiêm Sĩ Tuấn, mà tôi được sinh hoạt gần gũi với anh trong tòa soạn báo sinh viên Tình Thương. Ra trường, sự kiện Nghiêm Sĩ Tuấn chọn binh chủng Nhảy Dù, theo người bạn thân của anh là Đặng Vũ Vương, nhận định đó là một chọn lựa “thử thách cá nhân”. Anh đã hơn một lần bị thương sau đó vẫn tình nguyện trở lại trận địa và đã hy sinh trên chiến trường Khe Sanh 1968 khi anh đang cấp cứu một đồng đội…


          Do mối quan tâm tới các sắc dân Thượng từ thời làm báo sinh viên, ra trường tôi chọn phục vụ một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt với địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng Tây nguyên; cũng trong khoảng thời gian này tôi có thêm chất liệu sống để hoàn tất tác phẩm Vòng Đai Xanh. Mỗi khi có dịp về Sài Gòn, tôi đều tìm cách đến thăm thầy Phạm Biểu Tâm. Trường Y khoa thì nay đã di chuyển sang một cơ sở mới có tên là Trung Tâm Giáo dục Y khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Cũng để thấy rằng, tuy ở Sài Gòn nhưng Thầy luôn theo dõi và biết khá rõ cuộc sống quân ngũ của những học trò của Thầy ra sao.


          Sau 1975, trừ một số ít đã được di tản trước đó, số bác sĩ còn ở lại trước sau đều bị tập trung vào các trại tù cải tạo. Từng hoàn cảnh cá nhân tuy có khác nhau nhưng tất cả hầu như đồng một cảnh ngộ: bị giam giữ trong đói khát, với lao động khổ sai và học tập tẩy não. Những bao gạo in nhãn “Đại Mễ” đầy mối mọt viện trợ của Trung Quốc được đưa vào nuôi tù cải tạo trong giai đoạn này. Không khác với các trang sách viết của Solzhenitsyn về Gulag Archipelago nhưng là Made in Vietnam, tinh vi hơn với phần học thêm được cái ác từ Trung Quốc.


          Cũng thật trớ trêu, trại giam đầu tiên của tôi lại là Suối Máu, nơi từng là trung tâm huấn luyện của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, một đơn vị mà tôi đã từng phục vụ. Như một chính sách ập khuôn, không giam giữ lâu ở một nơi, cứ sau một thời gian, các tù nhân lạri bị tách ra, di chuyển đi các trại khác. Từ Suối Máu, tôi lần lượt trải qua các trại Trảng Lớn Tây Ninh, Đồng Ban và trại cuối cùng là Phước Long Bù Gia Mập. Một số khác thì bị đưa ta Bắc, sau này được biết là điều kiện tù đày khắc nghiệt hơn rất nhiều.


    Hình 13: Bài thơ với thủ bút của Gs Phạm Biểu Tâm tặng Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1975), Giải Khôi nguyên La Mã, người thiết kế Dinh Độc Lập và Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa (1962) trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]     


          Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã thật sự hoàn toàn đổi khác. Ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp góc đường Lê Quý Đôn rợp bóng cây xanh thì nay biến thành khu triển lãm “Tội ác Mỹ Ngụy”, không phải chỉ có trưng bày vũ khí súng đạn giết người, chuồng cọp với đủ dụng cụ tra tấn mà còn có cả sách báo nọc độc (sic) tàn dư văn hóa của “chủ nghĩa thực dân mới” trong đó có cuốn Vòng Đai Xanh.


     
    Hình 14: Trường Đại học Y khoa cũ, 28 Trần Quý Cáp Sài Gòn, nơi từng đào tạo bao thế hệ bác sĩ, sau 1975 biến thành khu triển lãm "Tội ác Mỹ Nguỵ" [nguồn: internet]


          Một hôm, tình cờ thấy Thầy Tâm đang đi bộ rảo bước trên khúc đường Trương  Minh Giảng gần Tòa Tổng Giám Mục nơi góc đường Phan Đình Phùng. Dừng chiếc xe đạp cũ kỹ bên lề đường, tôi chạy tới chào Thầy. Thầy trò gặp nhau không nói gì nhiều nhưng tôi thì đọc được những xúc cảm trong ánh mắt của Thầy. Rất ngắn ngủi khi chia tay Thầy chỉ nhắc tôi hai điều: Vinh nên đi chụp một hình phổi và ra ngoài rồi cũng ráng ăn thêm một chút thịt. Đôi điều dặn dò ấy chứng tỏ Thầy Tâm biết rất rõ cảnh sống của các học trò Thầy trong trại tù cải tạo.


          Khoảng đầu năm 1981, mấy ngày trước Tết Tân Dậu thầy trò còn ở lại có buổi họp mặt tất niên, bao gồm nhiều khóa, đông nhất là Y Khoa 68. Có được hai giáo sư Hoàng Tiến Bảo và Phạm Biểu Tâm tới dự. Tâm trạng của mọi người ngổn ngang lúc đó nên “vui là vui gượng kẻo là”. Thầy Tâm thì không uống rượu nhưng lại có mang rượu tới để chung vui. Thầy giơ cao chai rượu trước mặt các học trò và nói đại ý: “Lần này thì các anh thực sự yên tâm, đây không phải là rượu giả vì là chai rượu lễ của một Cha mới biếu tôi.” Trước sau, Thầy Tâm vẫn có một lối nói chuyện gián tiếp với “ý tại ngôn ngoại” như vậy. Không ai là không hiểu ý Thầy, muốn nói về một “thời kỳ giả dối” mà cả miền Nam đang phải trải qua.


          Sau biến cố 1975, thầy Tâm tuy vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế độ mới, vì đức độ tài năng và nhân cách đặc biệt của Thầy. Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng. Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch. Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dậy cho các thế hệ môn sinh. Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy. Bằng cớ là căn nhà của thầy Tâm trên đường Ngô Thời Nhiệm ít nhất đã hai lần bị công an thành phố xông vào lục xét. Và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì thì Thành Ủy đã lại đứng ra xin lỗi coi đó chỉ là hành động sai trái của thuộc cấp. Sự giải thích ấy thật ra chỉ là hai bản mặt của chế độ.


          Tới năm 1984, đã ngoài tuổi 70, sau hơn 40 năm cầm dao mổ, sống tận tụy với người bệnh và các thế hệ môn sinh, thầy Tâm đột ngột phải nghỉ hưu vì một cơn tai biến mạch máu não. Năm ấy tôi cũng đã qua Mỹ, đoàn tụ với gia đình xa cách đã tám năm. Vừa chữa bệnh lao phổi vừa chuẩn bị đi học lại. Như truyền thống tốt đẹp của gia đình y khoa, các bạn bè qua trước đã đem tới cho tôi những thùng sách và cả textbooks; các bạn ấy đều đã đậu các kỳ thi, có người trước đó 3-4 năm nhưng vẫn chờ để được nhận vào chương trình nội trú trước khi có thể lấy lại bằng hành nghề.


          Tôi đã phạm một lầm lẫn lúc đó, vội vàng học rồi thi FLEX/ ECFMG tuy đậu nhưng với số điểm không cao, có nghĩa là vào giai đoạn “đóng cửa” ấy rất ít hy vọng được nhận vào bất cứ một chương trình thực tập bệnh viện nào. Con đường trở lại y nghiệp xa vời vợi. Một giáo sư UCLA giới thiệu tôi vào chương trình MPH/ Master of Public Health, đây có thể là một cánh cửa khác, với cấp bằng Y Tế Công Cộng, tôi hy vọng có thể làm việc với WHO / Tổ chức Y tế Thế giới của Liên Hiệp Quốc tại các nước vùng Đông Nam Á hoặc Phi Châu.


          Cũng lúc đó tôi được gặp lại giáo sư Hoàng Tiến Bảo và luôn luôn được thầy Bảo khuyến khích nên trở lại với y nghiệp. Thầy Bảo thì sáng nào cũng từ nhà đi xe bus tới nhà thờ dự lễ trước khi tới USC/ University of Southern California. Mỗi ngày hai thầy trò đều đặn vào Norris Medical Library, trên đường Zonal ngồi học, chờ ngày thi lại; cùng với Thầy đi làm clinical fellow không lương ở Department of Medicine / Hypertension Service với các Gs DeQuattro, Gs Barndt – không gì hơn để có được letters of recommendation của các giáo sư Mỹ, đồng thời làm quen thêm với môi trường bệnh viện bên này. Cho dù trước 1975 thầy Bảo cũng đã du học về Orthopaedics ở Mỹ và tôi thì cũng đã có một thời gian tu nghiệp về Rehab ở San Francisco.


          Hệ thống y khoa Mỹ lạnh lùng và tàn nhẫn với bất cứ một bác sĩ ngoại quốc nào tới Mỹ theo diện di dân muốn hành nghề trở lại, cách đối xử khác xa với thành phần du học nếu sau đó trở về nước. Nhưng cũng có một nhận định khác cho rằng đó là sự tuyển chọn rất công bằng chỉ có ở nước Mỹ. Không là ngoại lệ, cả hai thầy trò phải đi lại từ bước đầu; trong khi đó ai cũng biết Thầy Bảo xứng đáng ở cương vị một giáo sư chỉnh trực giỏi của một trường đại học y khoa. Sau này, có thời gian làm việc tại các bệnh viện New York, tôi cũng đã chứng kiến hoàn cảnh vị giáo sư ObGyn đáng kính người Ba Lan phải đi làm EKG technician, rồi một bác sĩ giải phẫu người Nga thì làm công việc của một respiratory therapist. Họ là thế hệ thứ nhất tới Mỹ với tuổi tác không thể đi học lại từ đầu nên chấp nhận hy sinh lót đường cho thế hệ thứ hai vươn lên.  


          Thầy Bảo thì chỉ chú tâm lo cho học trò nhiều hơn là cho chính Thầy. Thầy đã từng đích thân đi xe bus tới nhà khuyên một học trò của Thầy nên tiếp tục học thay vì bỏ cuộc. Cho dù sắp tới ngày thi cử, thầy Bảo cũng vẫn dẫn một phái đoàn lên Medical Board trên Sacramento tranh đấu cho các học trò của Thầy ra trường sau 1975 được công nhận là tương đương và quyền trở lại y nghiệp.


          Rồi cũng là một kết thúc có hậu. Thầy Bảo thi đậu dễ dàng rồi hoàn tất năm nội trú và có bằng hành nghề trở lại ở California. Riêng tôi thì phải khá vất vả thi lại hai ngày FMGEMS với score phải khá hơn trên 80 để có thể được các chương trình Residency nhận đơn và cho phỏng vấn. Vào tháng Ba 1988 qua ngả National Resident Matching Program/ NRMP, tôi được nhận vào một chương trình nội khoa của các bệnh viện Đại học ở New York. Cũng thầy Bảo là người đầu tiên chia vui với tin tưởng là học trò của Thầy cũng sẽ qua được chặng đường thử thách 3 năm trước mặt. Thầy Hoàng Tiến Bảo thì nay cũng đã mất (20/ 01/ 2008), tôi và cả rất nhiều học trò khác không bao giờ quên ơn và nhớ mãi tấm gương sáng với tấm lòng quảng đại và đầy nhân hậu của Thầy Bảo.


     
    Hình 15: Gs Hoàng Tiến Bảo (phải) tới thăm Gs Phạm Biểu Tâm tại Tustin, Quận Cam Nam California [nguồn: tư liệu TSYS Canada] 


    GẶP LẠI THẦY CŨ GIÁO SƯ PHẠM BIỂU TÂM


          Trở lại làm nội trú bệnh viện muộn màng ở cái tuổi 47, từ New York qua bạn đồng môn Đường Thiện Đồng, tôi được tin thầy Phạm Biểu Tâm mới cùng gia đình đi đoàn tụ và sống với các con ở Mỹ 1989 – cũng đã 5 năm kể từ ngày Thầy bị tai biến mạch máu não. Có được địa chỉ của Thầy ở Santa Ana California, tôi viết thơ thăm thầy Tâm và được Thầy hồi âm bằng lá thư viết tay. Nét chữ của Thầy còn rất đẹp. Tôi nhớ là thầy Tâm thuận tay phải và đoán chừng Thầy chỉ bị liệt nửa người bên trái.


    [1] Santa Ana, 25-8-1989. 
    Anh Vinh, tôi đã nhận được thiếp bưu điện anh gửi thăm tôi và gia đình. Thấy lại nét chữ lại nhớ lại hình ảnh của anh từ lúc anh còn ở Saigon.  Sau này tôi có dịp trở lại chỗ anh làm việc cũ mà anh không ngờ, đó là Trung tâm Chỉnh Hình ở Bà Huyện Thanh Quan và Hiền Vương vì lúc ấy tôi đã sang giai đoạn vật lý trị liệu đều đều vì bệnh mới của tôi. Các cô tập cho tôi ở đây hỏi tôi có biết BS Vinh không? Tôi đã giả lời “Biết lắm chứ!” Rồi tôi nhớ lại tập sách anh viết và gởi cho xem lúc anh còn ở trong quân đội một thời gian…


          Khoảng 1971-72 tôi có cơ duyên được đi học về Rehabilitation Medicine ở Letterman General Hospital, Presidio San Francisco, nên sau này với chuyên môn ấy, tôi có một thời gian giảng dạy và làm việc ở Trung tâm Y khoa Phục Hồi, 70 Bà Huyện Thanh Quan Sài Gòn. Một số các cô chuyên viên Vật Lý Trị Liệu được tôi đào tạo trong các khóa học này. Và thật không thể ngờ, ở một tình huống quá đặc biệt, trong nghiệp vụ thường nhật, các cô học trò cũ ấy lại được vinh dự chăm sóc một vị danh sư và cũng chính là bậc thầy của “thầy dậy các cô”.


          Hình như Gs Phạm Biểu Tâm và Gs Nguyễn Hữu đã sang thăm đất nước Mỹ rất sớm. Khi nhận được một Postcard tôi gửi từ New York, thầy Tâm viết:  “Anh Vinh làm tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi đã đặt chân xuống thành phố New York năm 1951 cách đây non một nửa thế kỷ rồi! Lúc ấy còn là thời kỳ đi xem Empire State Building và Rockefeller Center là lúc thấy cái nào cũng ngẩng cổ lên mà đếm từng lầu. Cũng chả đếm hết được, rồi cảm giác đi “Ascenseur Tàu Suốt” một mạch được luôn mấy từng. Bây giờ đỡ thèm đi trở lại nhiều – thời nào cũng có cái thú của thời ấy.”


     
    Hình 16: Gs Phạm Biểu Tâm và môn sinh Ngô Thế Vinh tại nhà riêng của Thầy, thành phố Tustin, Santa Ana 1990. [photo by Đường Thiện Đồng]


          Qua một năm nội trú, từ New York với mùa đông giá lạnh ngập tuyết bước sang mùa hè nóng ẩm quá độ, nay tôi mới lại có dịp trở về vùng California nắng ấm để thăm thầy Tâm. Trong cảnh tha hương, cảm động và mừng tủi biết bao nhiêu khi được gặp lại Thầy, trên một lục địa mới ở một nơi xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất. Được cầm bàn tay ấm áp và mềm mại của thầy Tâm trong bàn tay mình, rồi như từ trong tiềm thức của một hướng đạo sinh ngày nào, tôi siết nhẹ bàn tay trái của Thầy và chỉ có thể nói với Thầy một câu thật bâng khuâng “…đôi bàn tay này Thầy đã cứu sống biết nhiêu người.” “Có gì đâu Vinh.” Thầy xúc động và nghẹn ngào nói thêm một câu gì đó mà tôi không nghe rõ. Tôi hiểu rằng sau tai biến mạch máu não, người bệnh đều ít nhiều trải qua những biến đổi sâu xa về mọi phương diện ngoài thương tật thể chất, còn có những thay đổi về xúc động tình cảm và tâm lý. Và tôi nhận thấy được sự thay đổi nơi Thầy, từ một con người rất trầm tĩnh nay trở thành dễ bị xúc động về sau này.


    MỘT DỰ ÁN LỊCH SỬ Y KHOA DỞ DANG


          Thầy Tâm còn rất minh mẫn, trí nhớ hầu như nguyên vẹn khi Thầy nhắc về những ngày ở bệnh viện Phủ Doãn Hà Nội cho tới bệnh viện Bình Dân và trường Y Nha Dược ở Sài Gòn. Hồi ức ấy nếu được ghi lại, đây sẽ là những trang tài liệu vô giá nếu không muốn nói là độc nhật vô nhị cho bộ sách Lịch sử Trường Y Khoa Hà Nội - Sài Gòn.


         Tôi mạn phép đề nghị đem tới Thầy một tape recorder thật gọn nhẹ để được Thầy đọc và ghi âm về những điều Thầy còn nhớ về Trường Y Khoa và sau đó tôi hứa sẽ làm công việc transcript. Nhưng tôi được thầy Tâm trấn an ngay: “Vinh đừng lo, công việc ấy đã có anh Nguyễn Đức Nguyên đảm trách và anh ấy sẽ làm chu đáo.” Tôi cảm thấy yên tâm vì được biết anh Nguyên trước đó cũng đã hoàn tất bộ sách rất công phu: Bibliographie des Thèses de Médecine [Tome I: Hanoi 1935-1954, Saigon 1947-1970; Tome II: Saigon 1971-1972, Hue 1967-1972].


          Khi tôi trở lại New York, Thầy còn viết thư để tôi có thể liên lạc với anh Nguyễn Đức Nguyên, lúc ấy anh đang sống ở bang Maryland. 


     [2] Santa Ana 12-8-1990. 
    Anh Vinh, 
    Cảm ơn anh đã dành thì giờ và tìm đến thăm tôi và cũng để cho tôi thăm lại anh. Trước hết xin phép trả nợ đã. Chép cho anh địa chỉ anh Nguyên như sau:                                                                       

    N. D. NGUYÊN  c/o Kathy Nguyên

    11616 Stewart Lane Apt # 302                                                                     

    Silver Spring, MD 20904                                                             

    Thế là khỏi quên. Mong anh sẽ gặp lại được người làm đúng cái anh mong. Vì anh ấy đã có ý định rồi, anh cũng sẽ yên tâm. 
    Thân ái chào anh, 
    Phạm Biểu Tâm.


     
    Hình 17: thủ bút Gs Phạm Biểu Tâm viết từ Santa Ana 12.08.1990  [nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh]

         

    Giã từ New York sau 3 năm “cải tạo tự nguyện” – đây là ngôn từ của Vũ Văn Dzi, hành nghề ở Oklahoma VA là bạn đồng môn đã qua Mỹ trước từ 1979.  Tôi trở về California năm 1991, làm việc trong một bệnh viện VA ở Long Beach mà bệnh nhân thì đa số là các cựu chiến binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Thời gian này, tôi vẫn giữ liên lạc khá thường xuyên với anh Nguyễn Đức Nguyên, được theo dõi từng bước về công trình của anh Nguyên.


     [3] Silver Spring, Feb 11, 1994.  
    Anh Vinh thân mến, 
    Anh có nhắc “Lịch sử Trường Y khoa Hà Nội – Sài Gòn” ở trang đề tựa khiến tôi thích thú bội phần; tôi vẫn nhớ anh khuyến khích tôi viết tập sách này từ lâu. Có thể nói phần đầu tới 1945 coi là xong rồi; phần Trường Y về ta tới 1954 và đến khi vào Sài Gòn cho tới khi có Hoa Kỳ giúp chính phủ Ngô Đình Diệm cải tổ giáo dục – nhất là giáo dục y khoa – thì còn thiếu một số tài liệu cần thiết: tôi đã nhờ một cô Mỹ trước làm với USOM Sài Gòn kiếm dùm; tôi cũng viết thư cho mấy người bác sĩ Hoa Kỳ trước kia cộng tác với Chương trình Trung tâm Y khoa để mượn tài liệu và hình ảnh. Archives của State Department rộng mênh mông, phải có chuyên viên mới tìm được. Sau khi AMA ký contract năm 1966-67 thì đã có cuốn sách “Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education” của các ông Ruhe, Singer & Hoover viết khá đầy đủ, chắc anh đã đọc rồi chứ? Sở dĩ lâu là vì chờ tài liệu và hình ảnh để bổ túc và cho sách thêm phần hấp dẫn; nếu chỉ có chữ không thì ít người muốn đọc…


    Trong một thư khác anh Nguyên viết:


    [4] Silver Spring, Dec 28, 1995. 
    Cảm ơn anh đã hỏi thăm về tập Lịch sử Trường Y. Tài liệu thu thập đầy đủ cho phần đầu (Hà Nội – 1954). Còn phần thứ hai (Sài Gòn – 1975) đang tìm thêm ở Bộ Ngoại Giao / State Department cho đủ viết từ thời kỳ có viện trợ Mỹ. Tiện đây tôi muốn hỏi anh về việc liên quan tới xuất bản sách ở bên này: nhà xuất bản lo từ đầu tới cuối và mình sẽ hưởng tác quyền như thế nào? Nếu mình trình bày bằng “computer” và chỉ cần đưa in thì họ sẽ tính thế nào? Tôi dự tính sang chơi California trước Tết ta, nếu đi được sẽ tin để anh biết và có thể hẹn gặp nhau ở đâu nói chuyện dài về sách vở.
    Thân,  
    Nguyễn Đức Nguyên


          Khi được anh Nguyên hỏi về việc xuất bản sách ở hải ngoại, tôi lạc quan nghĩ rằng tác phẩm “Lịch sử Trường Y khoa Hà Nội – Sài Gòn” của anh đã bước vào giai đoạn hoàn tất. Anh Nguyên thì cầu toàn, muốn có một tác phẩm thật ưng ý mới cho ra mắt. Riêng tôi thì lại có mối quan tâm khác anh. Bởi vì anh Nguyên cũng đã bước qua khá xa tuổi “cổ lai hy” và điều gì cũng có thể xảy ra. Tôi nhớ đã có lần bày tỏ với anh Nguyên là chờ một tác phẩm toàn hảo thì không biết đến bao giờ và đề nghị với anh cứ cho xuất bản những gì anh đã hoàn tất, sau đó anh vẫn có thời gian và cơ hội để hoàn chỉnh.


          Nhưng rồi rất tiếc là sau đó tôi mất liên lạc với anh Nguyễn Đức Nguyên, anh đã đổi địa chỉ, số phone và cả email. Được biết Anh Nguyên cũng gần tuổi với Gs Trần Ngọc Ninh (1923), anh cũng bước qua tuổi thượng thọ 90 rồi. Tôi cầu mong công trình của anh sẽ không bị thất lạc, rồi ra tác phẩm sẽ được ra mắt như sự tin cậy và mong đợi của giáo sư Phạm Biểu Tâm từ mấy thập niên của thế kỷ trước.


    Hình 18:  Bibliographie des Thèses de Médecine; Tome I: Hanoi 1935-1954, Saigon 1947-1970; Tome II: Saigon 1971-1972, Hue 1967-1972. [nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh]


    TRĂM NĂM CÒN LẠI CHÚT LÒNG TỪ BI


          Ngày 13 tháng 12 năm 2013, nhân 100 năm ngày sinh của giáo sư Phạm Biểu Tâm 1913-2013, các thế hệ sau nhìn lại để thấy rằng thầy Tâm là người đã dày công xây dựng một trường Đại học Y khoa có truyền thống, cùng với một ban giảng huấn đầy khả năng và thành phần sinh viên được tuyển chọn công bằng và nghiêm khắc, dù trong chiến tranh, ngôi trường ấy vẫn có tiềm lực vươn tới một Trung tâm Y Khoa hiện đại với đẳng cấp thế giới / world-class; vậy mà từ sau 1975 cả một nền tảng tốt đẹp ấy đã bị chế độ cộng sản hoàn toàn làm cho băng hoại.


          Nhớ lại khoảng thời gian được gần gũi với thầy Tâm, với tôi Thầy như một biểu tượng sống động cho lời thề Hippocrates, luôn luôn là tấm gương sáng cho các thế hệ y khoa, không chỉ về tài năng chuyên môn mà cả về đạo đức nghề nghiệp; Thầy vẫn cứ mãi mãi là hình ảnh “sẵn sàng dấn thân” của một Tráng Sinh Bạch Mã Lên Đường.


          Giáo sư Phạm Biểu Tâm mất tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 12 năm 1999 trong sự thương tiếc của gia đình, các môn sinh và toàn thể y giới Việt Nam tại hải ngoại và cả trong nước, thương tiếc một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước.


          Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm, đọc lại bài thơ thiền của Thầy, để tìm được nguồn an ủi:


    Trăm năm trước thì ta chưa có

    Trăm năm sau có cũng như không

    Cuộc đời sắc sắc không không

    Trăm năm còn lại chút lòng từ bi…


    NGÔ THẾ VINH                                                                                          

    California, 20.07.2017

    [Trích Tuyển Tập Chân Dung, sắp xuất bản]


    Tham Khảo:


    1/ Trần Ngọc Ninh. Một Hình Bóng, Một Con Người, Giáo Sư Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014


    2/ Nghiêm Đạo Đại. Nhìn Lại Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn với Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014


    3/ Hà Ngọc Thuần. Tiểu sử Giáo sư Phạm Biểu Tâm [1913-1999].

    Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014


    4/ Thân Trọng An. Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, Biểu Tượng của Y Đạo, Y Học, Y Thuật. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014


    5/ Ngô Thế Vinh. Tìm Lại Thời Gian Đã Mất, Tưởng Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014


    * Ghi Chú: Một số hình ảnh hiếm quý trong bài viết được trích từ Album gia đình Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Cám ơn Anh Phạm Biểu Trung, đã scan các hình ảnh và gửi cho chúng tôi.   



  • Hội nghị loãng xương (Tuy Hoà 8/2017)

    Posted on: 19 July 2017, 5:43 pm


    ·       Loãng xương, các bệnh liên quan và các khó khăn trong thực tế lâm sàng tại Việt Nam;

    ·       Giới thiệu Nghiên cứu VOS (Vietnam Osteoporosis Study);

    ·       Tình trạng nha chu và hiệu quả sàng lọc loãng xương trên phim toàn cảnh nha khoa ở phụ nữ sau mãn kinh;

    ·       Loãng xương và bệnh lý tim mạch;

    ·       Loãng xương và gãy xương trên bệnh nhân Đái tháo đường;

    ·       Loãng xương và hội chứng loạn dưỡng đau;

    ·       Thay đổi vi cấu trúc xương trên bệnh nhân đái tháo đường;

    ·       Điều trị Loãng xương ở người rất cao tuổi;

    ·       Tiếp cận toàn diện bệnh nhân cao tuổi có loãng xương;

    ·       Loãng xương và bệnh thận mạn, thực trạng và giải pháp;

    ·       Loãng xương thứ phát, thực trạng và giải pháp;

    ·       Bisphosphonates: hiệu quả lâm sàng và những quan tâm;

    ·       Sarcopenia: tần suất và yếu tố nguy cơ;

    ·       Thiếu Vitamin D và Nhuyễn xương.


    Tôi sẽ nói về một khám phá rất quan trọng trong chuyên ngành loãng xương, và nó làm cả một cuộc cách mạng trong điều trị và bào chế thuốc mới. Đó là khám phá về osteocyte và sclerostin (từ các bệnh nhân với hội chứng "van Buchem"). Những bệnh nhân này (rất hiếm) có xương đầu rất dày, họ không bao giờ bị gãy xương.


    Xin mời các bạn cùng tham gia với chúng tôi. Dù là chuyên ngành của các bạn là tiểu đường, tim mạch, ung thư, răng, lão khoa, các bạn sẽ học được rất nhiều điều từ hội nghị. Chúng tôi cố gắng đa dạng hoá chương trình và làm cho xương trở nên hấp dẫn với các bạn. 



    ===


    TB: Hội nghị năm nay được sự tài trợ của Bridge Healthcare (kim cương), Novartis (vàng), Takeda (bạc), và các nhà tài trợ ATB, Abbott, GSK, Hyphens, DKSH, Janssen, DuoVital, và NeuroPharma. 



  • Dùng phân người để điều trị bệnh!

    Posted on: 19 July 2017, 3:08 pm



    Microbiome và microbiota


    Có thể nói rằng hệ vi sinh vật là một “frontier” của y học hiện đại, có thể là biên giới sau cùng mà y học sẽ dành nhiều thời gian trong tương lai trên hành trình chinh phục bệnh tật. Những ứng dụng rất thực tế của hệ vi sinh trong điều trị viêm ruột kết bằng… phân người.


    Một cách ngắn gọn, microbiota là cộng đồng vi sinh vật trong cơ thể con người. Những vi sinh vật này bao gồm vi trùng, vi khuẩn, nấm, và protozoa. Cơ thể chúng ta là “nhà” của khoảng 100,000 [một trăm ngàn] tỉ vi sinh vật như thế, nhưng đa số chúng “cư trú” ở đường ruột, đặc biệt là ruột già. Một số nhỏ cư trú ở da và âm hộ (nữ). Cần nói thêm là những vi sinh vật này không phải là những “kẻ xâm lăng”, mà chỉ là những “kẻ thuộc địa nhân từ”. Trọng lượng của hệ vi sinh vật trong người chúng ta là khoảng 2.26 kg, tức thấp hơn cân nặng của bộ não một ít.


    Còn microbiome có nghĩa là hệ gen của các vi sinh vật đó. Chúng ta biết rằng mỗi vi sinh vật có một hệ gen (cũng như con người chúng ta có hệ gen bao gồm ~23,000 gen). Số gen của hệ vi sinh vật này là khoảng 300 triệu, nhiều gấp 143 lần số gen con người.


    Vai trò của microbiota


    Như vậy, chúng ta thấy những vi sinh vật đang cư trú trong cơ thể chúng ta rất phức tạp. Chính vì sự phức tạp của chúng nên chúng ta phải hiểu chúng có chức năng gì. Rất may mắn là những tiến bộ trong công nghệ phân tích gen đã giúp chúng ta có một số hiểu biết ban đầu về vai trò của microbiota. Như đề cập trên, đa số vi sinh vật làm nhà ở ruột già, nên có thể tiên đoán rằng chúng có vai trò rất quan trọng là giúp tiêu hóa thức ăn. Không có chúng nghiền nát và chuyển hóa thức ăn thì chúng ta khó mà ăn được trái cây và thịt, và … khó sống. Do đó, cộng đồng microbiota đóng vai trò quan trọng về sự sinh tồn của con người. Ngoài vai trò dinh dưỡng, cộng đồng microbiota còn giúp chúng ta kiểm soát hệ thống miễn dịch để phòng chống các tác nhân gây bệnh từ ngoài. Chúng còn giúp sản xuất vitamin B12, thiamine, riboflavin và vitamin K.


    Với những vai trò trên, cộng đồng microbiota có liên quan đến một số bệnh lí mãn tính. Những bệnh lí này bao gồm béo phì, tiểu đường, hen, tự kỉ, ung thư, viêm loét ruột, v.v. Một số nhóm trên thế giới còn nghiên cứu về ảnh hưởng của microbiota đến bệnh loãng xương và thoái hóa khớp. Nghiên cứu ở những người sinh đôi cho thấy cho dù những cặp này có cùng hệ gen, nhưng người béo phì có microbiota rất khác với người không béo phì. Thật ra, những người béo phì thường có hệ vi sinh vật nghèo nàn so với người không béo phì. Một nghiên cứu khác trên chuột cho thấy chuột bị tiểu đường loại I có hệ microbiota không phong phú bằng chuột không mắc bệnh. Nói tóm lại, những nghiên cứu này đều cho thấy sự đa dạng và phong phú của cộng đồng vi sinh vật trong người là rất quan trọng để duy trì sức khỏe.


    Dùng phân để trị viêm ruột


    Một nghiên cứu có thể xem là táo bạo dùng phân người để trị bệnh viêm loét đại tràng (ulcerative colitis). Công trình này mới được công bố trên tập san lừng danh Lancet, và kết quả có thể nói là hết sức đáng chú ý. Giả thuyết đằng sau nghiên cứu cho rằng viêm loét đại tràng là do cộng đồng microbiota bị mất cân đối hay thiếu sự đa dạng. Nếu giả thuyết này đúng (và đã có nhiều dữ liệu thí nghiệm cho thấy như thế) thì liệu pháp trị liệu là bơm phân vào bệnh nhân có thể giúp họ cải thiện bệnh trạng.



    Có nhiều bệnh nhân viêm loét đại tràng mà các thuốc hiện hành không có hiệu quả. Do đó, phương pháp “bơm phân” để thay thế cộng đồng microbiota có lẽ là một lựa chọn khả dĩ. Để kiểm định giả thuyết này, các nhà nghiên cứu Úc chọn một nhóm bệnh nhân gồm 80 người, chia thành 2 nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm được bơm phân (40 người), và nhóm chứng (40 người). Outcome chính của nghiên cứu là thuyên giảm mà không cần đến steroid và chỉ số Mayo. Kết quả là sau 8 tuần điều trị nhóm được bơm phân có tỉ lệ thuyên giảm là 27%, cao hơn 3 lần do với nhóm chứng (8%). Kết quả này có ý nghĩa thống kê (tỉ số nguy cơ 3.6; khoảng tin cậy 95%, 1.1 đến 11.9; P = 0.021).


    Ngoài ra, còn có một nghiên cứu khác trên bệnh nhân bị nhiễm Clostridium difficile cũng cho thấy bơm phân hay thay thế cộng đồng microbiota cũng có hiệu quả tốt.


    Nhưng vấn đề quan trọng là làm thế nào để bơm phân? Các nhà khoa học đã tìm ra giải pháp gọi là FMT (Fecal Microbiota Transplant). Mục tiêu là thay thế cộng đồng microbiota xấu bằng một cộng đồng tốt. Tìm cộng đồng microbiota tốt từ đâu? Câu trả lời là từ những người khỏe mạnh, nhưng dù thế, phân của họ vẫn phải được xem xét cẩn thận, đảm bảo không có máu hay chất nhầy. Sau khi đã có người tặng phân, bước kế tiếp là phải “chế biến”. Cách chế biến là hòa trộn phân tươi với dung dịch muối (saline) hoặc một dung dịch khác, rồi làm cho khô. 


    Tuy rằng những nghiên cứu khoa học về bơm phân để điều trị nhiễm trùng C. difficile và viêm loét ruột là mới, nhưng thủ thuật thay phân thì không hẳn là mới. Ở vài nơi trên thế giới, trẻ con mới sinh còn được cho ăn một chút phân mẹ vì người ta nghĩ rằng nó giúp cho đứa bé có khả năng kháng trùng. Ở bên Tàu, theo sách vở lưu lại thì các y sĩ bên đó đã dùng phân người để chữa bệnh. Theo bài báo này vào thế kỉ 4, y sĩ Ge Hong mô tả cách bơm phân vào miệng bệnh nhân bị ngộ độc hay bị tiêu chảy nặng. Đến thế kỉ 16, y sĩ Li Shizhen mô tả cách dùng dung dịch phân lên men, phân tươi, hay phân khô, hay phân trẻ con để điều trị tiêu chảy, cảm cúm, và táo bón. Để bệnh nhân khỏi “nhăn mặt” họ đặt tên cho cách điều trị này là “yellow soup”, hay canh vàng!


    Tóm lại, nghiên cứu về microbiota là một lĩnh vực rất nóng hiện nay trên trường quốc tế. Rất nhiều nghiên cứu được công bố trên những tập san có ảnh hưởng cao như Cell, Science, JAMA, Lancet, Gut, v.v. Những kết quả thử nghiệm lâm sàng gần đây cho thấy bơm phân có thể là một biện pháp tương đối hữu hiệu cho viêm loét đại tràng khi các biện pháp khác thất bại. Nhưng microbiota còn có vai trò trong các bệnh như tiểu đường, béo phì, và ung thư, nên các bạn cũng cần phải mở rộng tầm nhìn sang các bệnh lí vừa kể. Nếu các bạn muốn dấn thân vào một lĩnh vực nóng và tiền phong, thì nên nghĩ đến nghiên cứu microbiome hay microbiota.


  • xahoihoctap.NET
    Author: Social Learning Network
    About: Teaching resource - the 1st Vietnamse Portal in Metallurgy and Materials Technology. Cổng thông tin về lĩnh vực luyện kim và kỹ thuật vật liệu. Lĩnh vực chủ chốt: gang trắng Cr cao, thiêu kết xung điện plasma, xử lý nhiệt, tự động hóa trong luyện kim, luyện kim phi coke, động học hoàn nguyên Oxit sắt.

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: