Nguyễn Văn Tuấn's Blog

Category: Phiếm luận Published: 11 October 2009
Hits: 6066

tuan's blog

  • 10 hiểu lầm về trị số P trong khoa học

    Posted on: 24 March 2017, 8:23 pm




    Hiểu lầm 1: Trị số P là xác suất của một giả thuyết khoa học


    Một cách hiểu rất phổ biến là trị số P là xác suất giả thuyết vô hiệu. Chẳng hạn như nhà khoa học phát hiện mối liên quan giữa hút thuốc lá và ung thư với trị số P = 0.04, họ diễn giải rằng xác suất không có mối liên quan là 4%. Suy ra, xác suất có mối liên quan giữa hút thuốc lá và ung thư phổi là 96%. Nhưng cách hiểu này sai. Trị số P không nói gì về xác suất của một giả thuyết khoa học. Trị số P chỉ giúp chúng ta bác bỏ giả thuyết vô hiệu, chứ không chứng minh giả thuyết nào cả.


    Hiểu lầm 2: Trị số P là xác suất dữ liệu xảy ra một cách ngẫu nhiên


    Đây là một hiểu lầm mang tính khái niệm cơ bản. Theo cách hiểu này, khi một kết quả phân tích (ví dụ như giảm huyết áp 10 mmHg) với trị số P = 0.03, thì nhà nghiên cứu hiểu rằng xác suất mà kết quả đó xảy ra do yếu tố ngẫu nhiên là 3%; suy ra, xác suất kết quả giảm 10 mmHg là thật là 97%. Nhưng cách hiểu này cũng sai, bởi vì trị số P không nói lên kết quả nghiên cứu là ngẫu nhiên hay mang tính hệ thống.


    Hiểu lầm 3: Trị số P là xác suất phát hiện sai


    Đây là một hiểu lầm do suy nghĩ chưa cẩn thận. Một hiểu lầm phổ biến khác cho rằng P là xác suất phát hiện sai. Ví dụ như nhà khoa học tính toán hệ số tương quan, và có kết quả r = 0.25, với P = 0.01, họ hiểu rằng xác suất kết quả này sai là 1%. Suy ra, xác suất kết quả đúng là 99%. Nhưng cách hiểu này hoàn toàn sai, vì trị số P không cho chúng ta biết là kết quả nghiên cứu đúng hay sai.


    Hiểu lầm 4: Trị số P là alpha


    Khi thiết kế một nghiên cứu khoa học (nhất là nghiên cứu lâm sàng), nhà khoa học phải xác định ngưỡng alpha và beta của nghiên cứu. Nói nôm na, alpha là dương tính giả (tức là xác suất mà nghiên cứu cho ra kết quả dương tính nhưng trong thực tế chẳng có liên quan gì). Còn beta là âm tính giả (tức là xác suất mà nghiên cứu cho ra kết quả âm tính, nhưng trong thực tế thì có liên quan). Do đó, có nhiều nhà khoa học hiểu rằng trị số P chính là alpha, nhưng cách hiểu đó sai. Sai vì hiểu lầm khái niệm kiểm định giả thuyết (test of hypothesis). Trị số P là kết quả của kiểm định thống kê (test of significance), chứ không phải kiểm định giả thuyết.


    Hiểu lầm 5: Trị số P càng thấp, mức độ ảnh hưởng càng cao


    Đây là một hiểu lầm rất tai hại. Nhiều nhà nghiên cứu so sánh trị số P để đánh giá mức độ ảnh hưởng. Chẳng hạn như họ tìm trong y văn và thấy ảnh hưởng của thuốc statin trong một nghiên cứu có trị số P = 0.01, còn nghiên cứu của họ có trị số P = 0.001, họ suy luận rằng mức độ ảnh hưởng họ quan sát cao hơn mức độ ảnh hưởng báo cáo trong y văn. Nhưng cách hiểu này sai, vì trị số P không phản ảnh mức độ ảnh hưởng so sánh giữa hai hay nhiều trị số P là không có ý nghĩa gì cả.


    Hiểu lầm 6: Nô lệ vào trị số P


    Nhiều nhà nghiên cứu nghĩ (hay hiểu) rằng khi kết quả nghiên cứu có trị số P > 0.05 là xem như không có khác biệt hay không có ảnh hưởng. Họ chỉ chấp nhận kết quả với trị số P < 0.05. Nói cách khác, bất cứ kết quả nào có P < 0.05 là có ý nghĩa, còn P > 0.05 là không có ý nghĩa hoặc không đáng bàn. Tiêu biểu cho cách suy nghĩ này là một bài báo trên JAMA (tập san y khoa hàng số 1 trên thế giới) kết luận: “a low-fat dietary pattern did not result in a statistically significant reduction in invasive breast cancer risk,” nhưng khi nhìn vào kết quả thì thấy tỉ số nguy cơ là 0.91 (khoảng tin cậy 95%: 0/83 đến 1.01) và trị số P = 0.07. Đây là một kết luận … bậy bạ. Trị số P có độ dao động khá cao trong một quần thể, nên kết luận bằng cách lệ thuộc vào trị số P là một sai lầm nghiêm trọng.


    Hiểu lầm 7: Trị số P > 0.05 là một kết quả "negative"


    Cũng giông giống như hiểu lầm #5, nhiều nhà nghiên cứu có cách diễn giải theo nghĩa nhị phân: trắng-đen, có-không. Khi thấy kết quả P cao hơn 0.05, nhà nghiên cứu thường có xu hướng cho rằng kết quả là "âm tính" – negative, là nghiên cứu đã … thất bại. Ví dụ tiêu biểu cho trường hợp này là cách viết "The study failed to detect an effect"; chữ fail ở đây được dùng không đúng. Chẳng hạn như một nghiên cứu công bố trên tập san New England Journal of Medicine (được xem là kinh thánh y khoa) báo cáo tỉ số odds là 2.2 (khoảng tin cậy 95%: 0.83 đến 6.2), trị số P = 0.13, và tác giả viết "No difference in death rates"! Câu kết luận này sai, bởi vì trong thực tế là có difference, nhưng cái difference đó không có ý nghĩa thống kê. Viết kết luận như thế này được xem là … tài tử.


    Trị số P không nói lên kết quả là dương tính hay âm tính, càng không cho chúng ta biết là thành công hay thất bại. Nhiều nghiên cứu báo cáo kết quả không có ý nghĩa thống kê (tức P > 0.05) thường có độ nhậy (power) thấp, và do đó, không thể cho ra câu trả lời dứt khoát. Nhà nghiên cứu có thể không 'chứng minh' hai nhóm khác nhau, nhưng nhà nghiên cứu cũng không thể bác bỏ giả thuyết rằng hai nhóm có thể khác nhau. Người ta có câu "Absence of proof is not proof of absence" hay "Absence of evidence is not evidence of absence" (không có bằng chứng không có nghĩa là bằng chứng không có). Những nghiên cứu có độ nhậy đầy đủ (tức trên 80%) mà cho ra một kết quả không có ý nghĩa thống kê thì mới CÓ THỂ xem là một kết quả âm tính.


    Hiểu lầm 8: Lẫn lộn giữa ý nghĩa thống kê (statistical significance) và ý nghĩa lâm sàng / ý nghĩa thực tế (clinical significance / practical significance)


    Như đề cập trên, nhiều nhà nghiên cứu diễn giải một kết quả có ý nghĩa thông kê (P < 0.05) như là khẳng định có mối liên hệ sinh học hay có ý nghĩa lâm sàng. Thật ra, trị số P không có giá trị sinh học, và cũng không thể diễn giải như là có ý nghĩa sinh học hay ý nghĩa lâm sàng. Trong lâm sàng và sinh học, mức độ ảnh hưởng (effect size), mức độ khác biệt giữa hai hay nhiều nhóm mới là điều quan trọng. Có ý nghĩa thống kê là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ để kết luận mối liên hệ hay ảnh hưởng là có thật.


    Hiểu lầm 9: Diễn giải trị số P trong bối cảnh nhiều giả thuyết


    Tình huống tiêu biểu trong thực tế là một nghiên cứu kiểm định nhiều giả thuyết. Chẳng hạn như một nghiên cứu so sánh 50 biến số giữa hai nhóm bệnh nhân, tức nhà khoa học có 50 trị số P. Giả dụ như trong 50 trị số P đó, chỉ có một trị số P = 0.046, so sánh về chiều dài của ngón chân cái. Nhà khoa học kết luận rằng liệu pháp điều trị làm tăng chiều dài ngón chân cái của bệnh nhân! Nhưng cách hiểu hay diễn giải này sai, bởi vì nhà khoa học kiểm định quá nhiều giả thuyết, và cái ngưỡng alpha 0.05 không còn áp dụng nữa. Cái phát hiện có ý nghĩa thống kê rất có thể chỉ là ngẫu nhiên.


    Hiểu lầm 10: Khoảng tin cậy 95% là xác suất của kết quả


    Đây cũng là một hiểu lầm rất phổ biến trong khoa học. Tiêu biểu cho cách hiểu này là nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu và có kết quả thuốc bisph giảm nguy cơ tử vong với relative risk 0.75, khoảng tin cậy 95% 0.35 đến 0.97; nhà nghiên cứu diễn giải rằng thuốc giảm nguy cơ tử vong 25%, và xác suất 95% là mức độ giảm dao động từ 3% đến 65%. Nhưng về mặt lí thuyết cách hiểu này sai. Khoảng tin cậy 95% không phải là xác suất 95%. Để tính được xác suất 95% đó, phải dùng phương pháp Bayes.


    Trị số P là một con số hay gặp nhất trong nghiên cứu khoa học. Trong một bài phân tích tuyệt vời trên JAMA, các tác giả dùng máy tính "đọc" các bài báo và abstracts trong Pubmed (công bố trong thời gian 1990-2015), họ nhận dạng ra gần 4.6 triệu trị số P trong số 1.6 triệu abstracts, và 3.4 triệu trị số P trong số 385 ngàn bài báo. Điều thú vị là trị số P có vẻ càng ngày càng thấp hơn, tức là có nhiều nghiên cứu có kết quả có ý nghĩa thống kê nhiều hơn.


    Trên đây là 10 hiểu lầm (cũng có thể xem là sai sót) trong cách hiểu về ý nghĩa của trị số P. Những cách hiểu sai này gây tác hại rất lớn đến nghiên cứu khoa học. Rất nhiều thuốc vô hiệu quả, rất nhiều liệu pháp điều trị vô dụng, rất nhiều khám phá khoa học sai, rất nhiều kết luận gây hoang mang trong công chúng, rất nhiều đầu tư sai lầm, v.v. có nguồn từ hiểu sai trị số P. Chính vì hiểu sai rồi đi đến kết luận sai, nên đại đa số (có thể hơn 90%) các phát hiện khoa học báo cáo trên các tập san quốc tế là sai lầm.


    Không phải chỉ giới khoa học, mà ngay cả giới báo chí cũng cần phải hiểu cho rõ ý nghĩa của trị số P. Hiểu rõ để tránh đi đến kết luận sai và đưa tin giật gân. Hi vọng rằng qua cái note này các bạn đã phân biệt được khoa học dỏm và khoa học thật qua trị số P.

  • Tại sao những ca khúc trước 1975 ở miền Nam được ưa chuộng?

    Posted on: 18 March 2017, 8:03 pm


     

    Thứ nhất là đậm chất nhân văn. Nếu nhìn lại những bài ca trước 1975 ở miền Nam và so sánh với những sáng tác ở miền Bắc, tôi nghĩ ít ai có thể bác bỏ tính nhân văn trong các sáng tác ở trong Nam. Khi nói "nhân văn", tôi không chỉ nói đến những sáng tác về thân phận con người, mà còn kể cả những sáng tác thuộc dòng nhạc lãng mạn, trữ tình, nói lên cảm xúc của con người trước thời cuộc.


    Người ta thường phân nhóm những sáng tác của Trịnh Công Sơn thành hai nhóm tình yêu và thân phận, nhưng tôi nghĩ cách phân nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhiều nhạc sĩ khác như Từ Công Phụng chẳng hạn. Tình yêu không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn tình yêu quê hương đất nước ("Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam") và giữa người với người "Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu"). Thỉnh thoảng cũng có một vài bài có chất "máu" (như câu "nhưng thép súng đang còn say máu thù" trong bài "Lính xa nhà"), nhưng cho dù như thế thì câu kết vẫn có hậu "Hẹn em khi khắp trời nở đây hoa có tôi về". Có thể nói rằng cái đặc tính nhân văn và nhân bản của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam là yếu tố mạnh nhất để phân biệt so với các ca khúc cùng thời ngoài Bắc vốn lúc nào cũng có nhiều mùi máu và súng đạn.


    Cái đặc điểm nổi bật thứ hai là tính nghệ thuật trong các ca khúc.Khi nói "nghệ thuật" tôi muốn nói đến những lời ca đẹp, giàu chất thơ, và những giai điệu đẹp. Những bài ca mà ngay cả từ cái tựa đề đã đẹp. Những Dấu tình sầu, Giáng ngọc, Mùa thu cho em, Nghìn trùng xa cách, Tuổi biết buồn, Thà như giọt mưa, Giọt mưa trên lá, Hạ trắng, Diễm xưa, Ướt mi, và biết bao tựa đề có ý thơ và sâu lắng như thế đã đi vào lòng người thưởng ngoạn. Thử so sánh những tựa đề của các sáng tác cùng thời ngoài Bắc như Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng, Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, v.v. thì chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.


    Lời ca trong những ca khúc trước 1975 ở miền Nam cũng là những lời đẹp. Tôi thán phục những nhạc sĩ như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoài Linh [không phải anh hề], Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên (và nhiều nữa) đã viết ra những lời ca đi vào lòng người. Không phải chỉ đơn giản nhân văn theo kiểu những ý tưởng trừu tượng trong sáng tác của Trịnh Công Sơn (ví dụ như "hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi", hay "Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau"), nhưng có khi đi thẳng vào vấn đề như Phạm Duy ("tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời"). Còn nhiều nhiều bài đã đi vào lòng người qua những lời ca đẹp và giản dị: "Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng: 'Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư / Không tan theo cùng hư vô, không theo tháng năm phai mờ / Tình nào tha thiết anh ơi?". Có những lời ca mà tôi nghĩ giới trẻ ngày nay có thể mỉa mai cười khẩy nói sến, nhưng tuổi trẻ thì thường chưa đủ lớn để cảm những câu như "Tình vui theo gió mây trôi / ý sầu mưa xuống đời / lệ rơi lấp mấy tuổi tôi / mấy tuổi xa người  / ngày thần tiên em bước lên ngôi đã nghe son vàng tả tơi." (Tình khúc thứ nhất, nhạc Vũ Thành An, lời thơ Nguyễn Đình Toàn). 


    Không biết từ thuở nào mà tôi đã mê bài Trộm nhìn nhau của Trầm Tử Thiêng và đã từng dự báo rằng bài này có ngày sẽ nổi tiếng. Thời đó, tôi mới về thăm nhà sau 20 năm xa cách, và nhìn người xưa, tôi thấy những câu "Ðôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao / Em có còn đôi má đào như ngày nào" sao mà hay quá, hợp cảnh quá. Chỉ trộm nhìn thôi. Lời nhạc rất thơ. Mà, thật vậy, đa số những lời ca trong các sáng tác trước 1975 được viết ra như vẫn vần thơ hoặc phổ từ thơ. Người phổ thơ thành nhạc hay nhất là Nhạc sĩ Phạm Duy, được xem như là một "phù thuỷ âm thanh". Chính vì thế mà âm nhạc trước 1975 có những lời ca sang trọng. Thời nay, trong môi trường những ca khúc dung tục, rất hiếm thấy những ca khúc có những lời ca đẹp như trước.


    Lạ một điều là cũng là nhạc tuyên truyền (ở ngoài Bắc gọi vậy) hay nhạc tâm lí chiến (cách gọi trong Nam), nhưng những sáng tác trong Nam thì lại được người dân nhớ và xưng tụng. Sau cuộc chiến, những bài gọi là "nhạc đỏ", dù được sự ưu ái của nhà cầm quyền văn hoá, chẳng ai nhớ hay muốn nhớ đến chúng. Ngược lại, những sáng tác về người lính ở trong Nam thời trước 1975 thì lại còn lưu truyền và nuôi dưỡng trong lòng dân, dù nhà cầm quyền ra sức cấm đoán! Ngay cả những người lính miền Bắc cũng thích những bài hát về lính của các nhạc sĩ trong Nam. Tại sao vậy? Tôi nghĩ tại vì tính nghệ thuật và nhân bản trong những sáng tác ở miền Nam. Người lính, cho dù là lính cộng sản hay cộng hoà, thì vẫn cảm được những câu "Con biết xuân này mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương" hay "Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay". Những lời ca đó không có biên giới chính trị.


    Đặc điểm thứ ba là tự do. Dù có kiểm duyệt, nhưng nói chung các nghệ sĩ trước 1975 ở miền Nam có tự do sáng tác. Không ai cấm họ nói lên nỗi đau và những mất mát của chiến tranh. Không ai "đặt hàng" họ viết những bài ca tụng lãnh đạo như ngoài Bắc. Thật vậy, nhìn lại dòng nhạc thời đó, chẳng có một ca khúc nào ca tụng ông Nguyễn Văn Thiệu cả. Có một bài ca tụng ông Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chẳng ai ca vì nó được dùng trong mấy rạp chiếu bóng là chính. Thay vì ca ngợi "lãnh tụ" dòng nhạc miền Nam ca ngợi con người và dân tộc, nhưng cũng đồng thời nói lên nỗi đau của chiến tranh.


    Trịnh Công Sơn viết hẳn một loạt "Ca khúc Da Vàng" (mà hình như cho đến nay vẫn chưa được phép phổ biến). Trong thời chiến mà họ vẫn có thể phổ biến những sáng tác không có lợi cho chính quyền. Những ca khúc như "Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ / Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn" chắc chắn không có cơ may xuất hiện trong âm nhạc miền Bắc thời đó (và ngay cả sau này). Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong thời chiến có lẽ là bài "Kỉ vật cho em" (phổ thơ của Linh Phương) với những lời ca ray rứt, bi thảm: "Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime / Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã / Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả / Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa / Anh trở về trên chiếc băng ca / Trên trực thăng sơn màu tang trắng." Nghe nói ca khúc này đã làm cho chính quyền VNCH rất khó chịu với nhạc sĩ.


    Tiêu biểu cho tinh thần tự do sáng tác có lẽ là tự sự của Phạm Duy: "Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình …. thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn."


    Cái tính tự do còn thể hiện qua một thực tế là chính quyền thời đó không cấm đoán việc phổ biến các nhạc sĩ còn ở ngoài Bắc. Những sáng tác của Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, v.v. đều được phổ biến thoải mái trong Nam. Ngay cả bài quốc ca mà chính quyền vẫn sử dụng bài "Tiếng gọi thanh niên" của Lưu Hữu Phước vốn là một người cộng sản. Ngược lại, nhà cầm quyền ngoài Bắc thì lại cấm, không cho phổ biến các sáng tác của các nhạc sĩ trong Nam hay đã vào Nam sinh sống.


    Đặc điểm thứ tư của âm nhạc ngày xưa là tính phong phú về chủ đề. Khác với nhạc ngoài Bắc cùng thời tất cả dồn cho tuyên truyền và kêu gọi chiến tranh, các sáng tác trong Nam không kêu gọi chiến tranh nhưng yêu thương kẻ thù. Nhạc thời đó đáp ứng cho mọi nhu cầu của giới bình dân đến người trí thức, từ người dân đến người lính, từ trẻ em đến người lớn quan tâm đến thời cuộc, từ tình yêu lãng mạn đến triết lí hiện sinh, từ tục ca đến đạo ca, từ nhạc trẻ đến nhạc "tiền chiến", từ nhạc tâm lí chiến (tuyên truyền) đến nhạc chống chiến tranh, nói chung là đủ cả. Không chỉ sáng tác bằng tiếng Việt mà còn trước tác hay dịch từ các ca khúc nổi tiếng ở nước ngoài để giới thiệu cho công chúng Việt Nam.


    Tôi nghĩ 4 đặc điểm đó có thể giải thích tại sao những ca khúc dù đã được sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà vẫn còn phổ biến và được yêu chuộng cho đến ngày nay. Những cấm cản chỉ là biện pháp tuyệt vọng. Mai kia mốt nọ, nếu có người viết lại lịch sử âm nhạc, tôi nghĩ họ sẽ ghi nhận những sáng tác thời trước 1975 ở miền Nam là một kho tàng vàng son của âm nhạc Việt Nam. Như là một qui luật, những bài hát tuyên truyền thuần tuý, những bài ca sắc máu, những sáng tác kêu gọi giết chóc và hận thù sẽ bị đào thải, và thực tế đã chứng minh điều đó. Đó là những social infection, rất khó tồn tại trong lòng người thưởng ngoạn. Ngược lại, chỉ có những sáng tác đậm tính nhân văn, giàu nghệ thuật chất, và phong phú xuất phát từ tinh thần tự do thì mới tồn tại theo thời gian.


  • Để thành công trong việc học tiến sĩ

    Posted on: 18 March 2017, 7:53 pm





    1. Chọn thầy cho tốt


    Thầy tốt là người có tiếng trong chuyên ngành. Những người thầy đẳng cấp quốc tế họ chỉ giao lưu với những người cùng cấp. Điều này có nghĩa là học với những thầy như thế mình có cơ hội tiếp xúc với những người danh tiếng, và giúp cho sự nghiệp postdoc hanh thông hơn. Xem website của họ (thường có liệt kê công trình nghiên cứu), xem họ công bố ở đâu, trích dẫn (nếu có) ra sao, từng làm việc với ai, nhất là trong 5 năm gần đây, để biết họ ở đẳng cấp nào. Thường, những người cấp Professor thì thoải mái hơn những người cấp Associate Professor và Assistant Professor vì hai cấp này đang phấn đấu, nên họ có thể khó khăn và đòi hỏi nhiều ở NCS.


    Trong thế giới khoa bảng có nhiều loại thầy, và thể loại có ảnh hưởng đến sự thành bại của NCS. Tôi nghĩ có 3 dạng thầy chính:


    • Vua chúa: dạng này xem NCS là nô lệ, hay lao động cấp thấp giá rẻ, chuyên sản xuất data cho họ. NCS không thể làm gì khác những gì họ yêu cầu làm. NCS không được cãi, chỉ có làm, làm, và làm. Lâu lâu NCS mới có ân huệ gặp họ một lần, và mỗi lần cũng chỉ vài phút. Dạng thầy này kì vọng NCS như là phiên bản nhỏ hơn của họ.


    • Độc tài: dạng này khá tàn bạo, duy ý chí, chuyên đày đoạ NCS để cho ra kết quả họ muốn. Làm không ra cũng phải cố gắng làm cho ra kết quả. Loại độc tài này cũng giống như Tào Tháo, lúc nào cũng nghi ngờ và chất vấn NCS, và tìm mọi cách kiểm soát mọi hành vi của NCS. Họ cũng hành xử giống như những kẻ khủng bố. Dạng thầy này gặp NCS thường xuyên, nhưng không phải để giúp mà để hỏi "kết quả đâu".


    • Đồng nghiệp: đây là dạng thầy NCS cần, vì họ xem NCS là người đồng nghiệp, họ khuyến khích NCS tìm cái mới không thuộc lĩnh vực của họ, họ sẵn sàng giúp cho NCS tiến xa hơn và mở rộng hướng nghiên cứu. Họ kì vọng NCS sẽ giỏi hơn họ, và họ ủng hộ trò ngay khi cả sau khi tốt nghiệp. Đây là dạng thầy NCS rất cần.


    2. Chọn đề tài khả thi


    NCS chỉ có 3-4 năm toàn thời gian để học và làm. Thời gian làm quen với chuyên ngành và học kĩ năng đã mất 1 năm trời. Còn 2-3 năm lại là nghiên cứu và công bố. Hãy tự hỏi mình trong thời gian đó, đề tài nghiên cứu có cho phép mình có cơ hội công bố. Tuy nhiên, đây cũng là một thoả thuận giữa thầy và trò (thường là do thầy áp đặt, chứ trò chẳng có tiếng nói nào cả).


    3. Học viết và nói


    NCS Việt Nam nói chung rất dở về nói, và càng dở hơn về viết. Nói ra điều này có thể làm cho nhiều người phản đối, vì họ nói có bằng tiếng Anh IELTS gì đó, nhưng trong thực tế mấy các điểm trong bằng đó giúp rất ít cho thời gian nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học là một thế giới riêng, và mỗi chuyên ngành có một văn hoá bộ lạc đặc thù, một ngôn ngữ đặc biệt mà NCS cần phải học thêm. Nói và viết là hai "kĩ năng mềm", nhưng hết sức quan trọng trong khoa học. NCS Á châu thường không được đồng nghiệp phương Tây "take seriously", nên kĩ năng nói và viết sẽ giúp họ vượt qua cái định kiến đó.


    Cách học viết hay nhất là viết review paper. Không ai mời, mình cũng viết. Viết để có cơ hội cập nhật hoá và học tiếng Anh. Viết để làm quen với văn phong khoa học. Cách học nói hay nhất là tham gia các hội nghị, và cho ý kiến. Nên nhớ là cho ý kiến tốt và insightful để trước là học nói, sau là vừa giúp người ta vừa gây chú ý từ đồng nghiệp.


    4. Hoạt động xã hội


    Một kĩ năng rất quan trọng trong việc học tiến sĩ là học làm leader, mà theo kinh nghiệm của tôi thì NCS gốc Việt rất kém. Trong thời gian theo học, NCS nên tham gia vào những hoạt động xã hội như câu lạc bộ, như đóng vai trò tình nguyện trong các hội sinh viên tiến sĩ, tình nguyện làm những việc phụ tá trong hội nghị chuyên môn, v.v. Những việc này giúp cho NCS trở nên năng nổ, tích cực, và tập làm lãnh đạo, điều hành công việc. Nhưng đa số NCS Việt rất thụ động, họ chỉ lo học, chứ không quan tâm đến việc chung quanh, và điều này chỉ làm cho họ mất điểm trước các đồng môn khác. Nên nhớ, học tiến sĩ là một việc, nhưng đóng góp và phục vụ cũng là một việc quan trọng khác.


    5. Networking


    Để thành công trong khoa học, NCS cần phải tập văn hoá networking, có nghĩa là hoà mình vào cộng đồng khoa học, nhất là bộ lạc của mình. Phải biết ai là bậc "trưởng thượng" trong bộ lạc, ai đang điều hành, ai đang lên, v.v. để làm quen và tìm hiểu con đường đi của họ. Nên nhớ nguyên lí "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", và networking với các đồng nghiệp "sáng" trong bộ lạc giúp cho tương lai postdoc rất nhiều. Ngoài ra, cũng nhớ rằng nhiều sự việc quan trọng có khi không được bàn luận trong hội nghị, mà trên các bạn tiệc và những lúc đang giao lưu "rượu chè" với nhau; do đó, phải học cách giao lưu (học uống red wine) và học ngôn ngữ lóng của bộ lạc để mình không bị lạc hậu và được "take seriously."


    Đó là vài ý nghĩ chợt hiện. Mai mốt tôi sẽ suy nghĩ kĩ và viết thêm để mách bảo cho các bạn.


  • Cách đặt câu hỏi và trả lời hội nghị

    Posted on: 17 March 2017, 2:03 am





    Trong các hội thảo khoa học chúng ta biết rằng có diễn giả và khán giả (và chủ toạ). Diễn giải nói, khán giả đặt câu hỏi, chủ toạ điều phối hội thảo và trao đổi giữa diễn giả và khán giả. Đặt câu hỏi và bình luận trong hội thảo tôi nghĩ cũng chẳng khác mấy "comment" trên các diễn đàn xã hội như facebook và blog. Có người hành xử lịch sự, người làm ra vẻ "ta đây" cái gì cũng biết hết, kẻ thì trịch thượng, người lại thích thoá mạ người khác, v.v. (1). Nghiêm chỉnh mà nói, cách hỏi trong hội nghị cũng là cả một nghệ thuật. Dưới đây là vài kinh nghiệm mà tôi muốn chia sẻ cùng các bạn ở đây.


    Có vài nguyên tắc văn minh (thực ra qui ước thì đúng hơn) về cách đặt câu hỏi trong hội thảo. Cũng chẳng có sách vở gì, tôi nghĩ đến những qui ước sau đây:


    (a) Lịch sự. Lúc nào cũng tỏ ra lịch sự với diễn giả. Nên nhớ rằng diễn giả cũng chịu áp lực lớn để đứng trên bục, và họ có thể quên, có thể nhớ không hết, có thể có thiếu sót nào đó. Vì thế, người đặt câu hỏi nên tỏ ra cảm thông cho diễn giả, và có thể bắt đầu bằng câu đại khái như "Có lẽ tôi nhớ không kĩ những gì anh nói, nhưng tôi muốn hỏi lại cho chắc ăn là ..." (Perhaps I could not catch what you said earlier, but could I please clarify with you ...).


    (b) Ngắn gọn. Thông thường phần thảo luận chỉ có 5 phút sau bài nói chuyện, mà có thể có nhiều người muốn hỏi, nên người hỏi phải hỏi ngắn, và đi thẳng vào vấn đề. Để hỏi một câu hỏi ngắn mà có ý nghĩa là không dễ chút nào. Do đó, người hỏi phải suy nghĩ trong đầu cẩn thận câu hỏi nào cần thiết nhất và "burning" nhất để hỏi, chứ không nên phí thì giờ những câu hỏi phi thực tế hay ngoài chủ đề bài nói chuyện.


    (c) Không được lên lớp. Điều đại kị là không được lên lớp diễn giả, vì điều đó gây ấn tượng xấu đến diễn đàn. Trong diễn đàn có những người bậc thầy cô, không nên thể hiện theo kiểu phô trương "ta đây thông minh", "ta có kiến thức", "ta biết hơn người". Những cách thể hiện như thế chẳng giúp gì cho người hỏi, mà còn tạo ấn tượng không tốt ở khán giả.


    Tựu trung lại, tôi thấy những câu hỏi trong hội thảo có thể chia thành 3 nhóm liên quan đến khen, hỏi đàng hoàng, bất đồng ý kiến, và định hướng. Mỗi câu hỏi có thể thể hiện qua vài câu ngắn. Dĩ nhiên, câu hỏi tuỳ thuộc vào tình thế và bối cảnh, nhưng có những câu chung chung như sau:


    1. Khen và ủng hộ


    Có những bài nói chuyện hay và có ích, thì cũng nên khen diễn giả để trước là cám ơn và sau là giúp họ lên tinh thần. Những câu khen mang tính "cliché" như great talk, beautiful data, comprehensive, hard act to follow, v.v. có thể sử dụng:


    • "Thank you for your lecture/talk/presentation. Those were beautiful data" (cám ơn bài nói chuyện của ông. Những phát hiện/dữ liệu thật là đẹp đẽ).


    • "That was a great talk! Thank you. Now, I would like to bring your attention to the point you raised earlier that ..." (Đó thật là một bài nói chuyện quá hay! Xin có lời cám ơn. Bây giờ tôi muốn quay lại điểm anh nêu lên lúc ban đầu rằng ...)


    • "Thank you for the elegant presentation. You are a hard act to follow. Let me start off by asking you this question ..." (Cám ơn ông về bài nói chuyện lịch lãm. Khó mà theo đuổi anh nỗi. Tôi muốn bắt đầu bằng câu hỏi sau đây ...)


    • "Wow, such a nice and comprehensive lecture! Thank you. Could I bring up one issue that I am hoping that you will comment on..." (Wow, thật là một bài giảng hay và đầy đủ. Tôi muốn nêu một vấn đề mà tôi hi vọng là ông sẽ cho ý kiến ...)


    Cũng nói thêm là những câu chữ cliché không có nghĩa là đạo văn hay cóp của ai cả, vì đó là những câu chữ phổ thông, ai cũng dùng.


    2. Câu hỏi "critical" nhưng công bằng


    Một số câu hỏi trong hội thảo thường ... khó khăn. Đó là những câu hỏi gọi là insightful, tức là đi sâu vào chi tiết. Chi tiết có thể liên quan đến một dữ liệu nào đó, một slide, một phương pháp, hay một cách diễn giải. Thường là những vấn đề mà người hỏi không đồng ý với tác giả. Những câu hỏi loại này thường làm cho diễn giả cảm thấy cám ơn và làm cho môi trường học thuật thêm hào hứng. Có một số câu có thể dùng:


    • Những câu hỏi loại yêu cầu diễn giả bình luận: Vào đầu lúc nào cũng cám ơn: "Your data are great. Thank you." Sau đó là đặt câu hỏi, ví dụ như câu hỏi về dữ liệu: "Could I ask you a question on slide 7, where you showed the data concerning the distribution of E2 hormone which seemed non-normal. Could you elaborate more on the clinical implication of this non-normality?" (Tôi muốn hỏi ông dữ liệu về hormone E2 trong slide số 7. Tôi thấy phân bố của hormone hình như không tuân theo luật phân bố chuẩn. Ông có thể bình luận về ý nghĩa lâm sàng của phân bố như thế?)


    • Những câu hỏi loại bắt bẽ: "You concluded that the gene can be used for disease screening, but the graph in slide 10 shows that the magnitude of the relationship was very modest. Do you think the gene, with such a modest effect, is qualified as a screening tool?" (Ông kết luận rằng cái gen đó có thể dùng cho tầm soát bệnh, nhưng nhìn vào biểu đồ ở slide số 10 thì mức độ ảnh hưởng rất thấp. Vậy ông nghĩ với mức độ ảnh hưởng như thế gen này có thể dùng cho screening?"


    • Khi diễn giải dùng phương pháp sai, câu hỏi cần phải hết sức cẩn thận. Không bao giờ dùng chữ gì quá xác định, mà lúc nào cũng phải perhaps, may, may be, possibly, v.v. Ví dụ nếu diễn giải dùng sai phương pháp phân tích hồi qui tuyến tính, có thể hỏi nhẹ nhàng: "I may have misunderstood you, but from what you showed, the outcome was a discrete variable, and yet you used linear regression in the analysis. I am wondering (and I would like to have your opinion on) whether such a method is appropriate for the data?" (Tôi có thể hiểu lầm ông, nhưng những gì ông trình bày thì outcome là một dữ liệu phân nhóm, vậy mà ông dùng mô hình hồi qui tuyến tính! Tôi tự hỏi (và muốn nghe ý kiến của ông) là không biết một phương pháp như thế có thích hợp cho nghiên cứu này?"


    • Không đồng ý với cách diễn giải. Đây là những câu hỏi hơi tế nhị, và cần phải xử lí bằng chữ rất cẩn thận. Người mất lịch sự và thô lỗ thì nói thẳng là sai. Nhưng trong giới đồng nghiệp với nhau, không nên dùng chữ đó (sai) nơi công cộng, nếu không bị mang tiếng là thô lỗ. Cách hỏi lịch sự nhất là "If you don't mind, I would like to come back to your interpretation of the data in Table 2. You postulated that there was an effect of the drug on the time to remission, but I am wondering whether an alternative interpretation is possible. One such interpretation is that the drug had no effect, and what you saw is actually confounded by patient's severity. Do you think such an interpretation is reasonable" (Nếu ông không phiền, tôi muốn quay lại cách diễn giải của ông trong bảng số 2. Ông cho rằng thuốc có ảnh hưởng đến thời gian tái phát. Nhưng tôi nghĩ có một cách hiểu khác, và cách hiểu đó là thuốc không có ảnh hưởng, nhưng cái ảnh hưởng mà ông quan sát là do bệnh trạng của bệnh nhân. Ông nghĩ cách hiểu như thế có hợp lí không?"


    Cách nói "một cách hiểu khác" là cách lịch sự để nói rằng có thể cách hiểu của diễn giả có vấn đề. Một cách nói khác là "For the sake of my own understanding, I see this way ..." cũng hay được sử dụng và có hiệu quả rất tốt. Nên nhớ là không ai lịch sự lại nói đồng nghiệp mình "wrong" trước đám đông cả. (Còn người thô lỗ thì mình không nói đến ở đây).


    3. Định hướng


    Ngoài những câu hỏi trên, còn có những câu hỏi mang tính định hướng, hay nói chung là những câu hỏi kiểu "trời ơi", "nổ". Những câu hỏi này thường xuất phát từ các bậc "senior" trong ngành. Chẳng hạn như đối với những bài giảng mang tính tổng quan, người ta hỏi kiểu "So, in your view, where the field is moving to" (theo ông thì lĩnh vực này sẽ đi về đâu), hay "Looking to the future, where do you think we will be heading to?" (Nhìn về tương lai, theo ông thì lĩnh vực chúng ta theo đuổi sẽ đi về đâu?) Nhưng câu hỏi như thế thường mang tính giống như một note nhạc sau cùng của bài nói chuyện, nên diễn giả có cơ hội nói lời sau cùng.


    Đó là những câu hỏi mà tôi trải nghiệm trong thực tế. Tôi nghĩ chắc chắn còn vài loại câu hỏi khác mà tôi chưa biết hết, nhưng dù là câu hỏi loại gì, thì 3 qui ước lịch sự, ngắn gọn, và không lên lớp là phải tuân theo. Dĩ nhiên, đối với những người mất lịch sự và thô lỗ thì chúng ta không bàn ở đây. Tôi đã chứng kiến những trường hợp cãi nhau trong hội nghị, mà cái dư âm và tác động kéo dài cho đến ngày qua đời! Có người từng là đồng nghiệp với nhau mấy mươi năm, nhưng chỉ vì một nhận xét thô lỗ mà tình bạn bị tổn hại, và ngày người kia qua đời, ông này nhất định không đi đám tang. Do đó, qui luật nhân quả rất diệu kì, mà có khi chúng ta không thấy trước được. Trong hội nghị cũng giống như trong diễn đàn facebook, có người này kẻ kia, nên cách tốt nhất là giữ hoà khí và tử tế với nhau, hay nói như Trịnh Công Sơn là sống tử tế với nhau.


    TB: Tôi phải có lời xin lỗi trước nếu cái note này (và những cái note dạng kĩ năng mềm) mang tính "lên lớp". Tôi không có ý lên lớp ai cả; tôi viết chủ yếu là cho nghiên cứu sinh của tôi và các học viên trong các workshop của tôi.



    Cách trả lời câu hỏi trong hội nghị


    Có thể nói rằng trong các hội thảo khoa học, phiên vấn đáp sau mỗi bài báo cáo là thời điểm đáng sợ nhất. Điều này đúng cho những người mới vào "nghề" hay chưa quen với văn hoá khoa học. Cái sợ còn tăng lên khi khả năng đối đáp tiếng Anh của diễn giả còn hạn chế. Nhưng đã "leo lưng cọp" thì cũng phải làm cho tròn nhiệm vụ, chứ không thể "than thân trách phận" được. Trong note này tôi sẽ mách cho các bạn vài nguyên tắc và mẹo cụ thể để trả lời các câu hỏi hay gặp.


    Những câu hỏi này xuất phát từ trải nghiệm thực tế của cá nhân tôi. Dạo đó, vào đầu thập niên 1990, tôi mới vào ngành và may mắn được báo cáo trong một hội nghị cấp quốc gia ở Sydney. Báo cáo xong thì một ông cụ (mà sau này tôi mới biết là bậc tiền bối Chris Nordin) đứng lên hỏi. Ông vào câu hỏi bằng một phát biểu như sau: "Oh, my dear young man, I have done this work 25 years ago ...." (Người bạn trẻ của tôi ơi! Tôi đã làm về lĩnh vực này 25 năm trước). Tôi lúc đó thấy "tê tái" trong người, cái công trình như thế mà ông cụ xem như đồ cổ thì còn gì để nói nữa. Nhưng sau này tôi phát hiện đó là câu tủ của ông cụ, vì đối với ông chẳng có cái gì là mới cả. (Sau này tôi quen với ông cụ, không dám nói là "thân", nhưng ông thích tôi. Khi ông chết, tôi có viết một bài điếu văn). Một lần khác ở Minnesota, tôi trả lời sai câu hỏi. Người ta hỏi "weight" mà tôi thì tiếng Anh còn kém, tưởng là hỏi "sway" (đề tài tôi nói chuyện) nên tôi trả lời bon bon về "sway". Đến khi xuống ghế ngồi, 'sư phụ' mặt hình sự lạnh như tiền, phán một câu: "You did not answer the guy's question" (Mi chưa trả lời câu hỏi của hắn). Tôi chết điếng người! Thời đó (và nay) có ai dạy tôi về cách ứng phó trong hội nghị đâu. Làm đến đâu học đến đó. Gặp thầy tốt chỉ dẫn thì là một may mắn, còn gặp thầy thờ ơ thì cũng … như không.


    Cách hay nhất là tự học. Tự học bằng quan sát và học từ những thất bại của mình và cái sai của đồng nghiệp. Qua một thời gian tự học, tôi có thể tổng kết lại một số câu hỏi phổ biến, và từ đó tôi tự đề ra 5 nguyên tắc trong ứng phó oral trong hội thảo khoa học. Đã đến lúc tôi có thể chia sẻ kinh nghiệm với các bạn, để sau này các bạn không chết đứng như tôi trước đây.


    Nguyên tắc 1: Chuẩn bị câu hỏi và trả lời


    Không có cái gì tốt hơn là sẵn sàng và có chuẩn bị. Trước khi lên bục giảng trình bày bài nói chuyện, diễn giả cần phải thực tập trước và có sẵn một loạt câu hỏi khả dĩ. Nói cách khác, diễn giả cần phải suy nghĩ trước những câu hỏi mà khán giả (đồng nghiệp) có thể đặt ra, và suy nghĩ câu trả lời. Dĩ nhiên, không phải tất cả những câu hỏi mình nghĩ ra sẽ xảy ra trong thực tế (vì làm sao có thể đoán trước hết được), nhưng qua chuẩn bị, diễn giả sẽ cảm thấy tự tin hơn và "trơn tru" hơn trong khi trả lời.


    Chuẩn bị câu hỏi gì? Theo tôi là những câu hỏi liên quan đến lí do chọn đề tài nghiên cứu; phương pháp làm (thường bị hỏi nhiều nhất), nhất là những phương pháp mới lúc nào cũng gây ra e dè từ người nghe; cách diễn giải dữ liệu; và kết luận. Một số câu hỏi thường nhắm đến cơ chế. Phải chuẩn bị câu trả lời cho từng câu hỏi. Chuẩn bị những chữ quan trọng cần phải nhấn mạnh (gọi là "keywords") và những "câu tủ" cần phải nói cho trơn tru Tôi đã từng giúp vài bạn chuẩn bị câu hỏi và lần nào kết quả cũng rất mĩ mãn. Do đó, các bạn hãy chuẩn bị câu hỏi và câu trả lời trước khi lên bục giảng.


    Nguyên tắc 2: Tôn trọng người hỏi


    Điều rất quan trọng là phải tôn trọng người hỏi. Ngoại trừ một số rất ít những người hỏi để "kiếm chuyện", đại đa số người đặt câu hỏi đều có thiện ý và thiện tâm, họ muốn giúp cho diễn giả tốt hơn, hoặc làm cho diễn giải phải suy nghĩ nhiều hơn về vấn đề, hoặc chia sẻ thông tin. Do đó, lúc nào cũng tỏ ra tôn trọng người đặt câu hỏi. Cách tỏ ra sự tôn trọng là trước khi trả lời, cần nói vài câu loại cliché, như "Thank you for your question, which I think is very important and I forgot to mention in my talk" (Cám ơn câu hỏi của ông/bà mà tôi nghĩ là rất quan trọng nhưng tôi quên đề cập trong bài nói chuyện). Có thể thay thế chữ important bằng interesting, relevant, crucial, v.v. Cũng có thể thay cách nói "I really appreciate your question which allows me to clarify one thing ..." (tôi thật sự cám ơn câu hỏi của anh vì nó giúp tôi minh bạch một vấn đề ...).


    Tôn trọng ở đây có nghĩa là trả lời câu hỏi đầy đủ (nếu biết) và dựa vào chứng cứ. Tuyệt đối không được lên lớp người hỏi, vì gây ấn tượng rất xấu và nguy hiểm. Cũng không nên trả lời cho có, theo kiểu "nhát gừng". Càng tránh dùng những câu mà người ta có thể hiểu là câu hỏi không xứng đáng để trả lời như "As you should know", "It is well known that", "I think everyone here knows that". Cố gắng trả lời câu hỏi một cách đầy đủ, cho dù câu hỏi sơ đẳng cỡ nào.


    Nguyên tắc 3: Khiêm tốn và thành thật


    Lúc nào cũng tỏ thái độ khiêm tốn khi trả lời, nhất là những người mới vào "bộ lạc" hay còn ở vị trí "junior" trong chuyên ngành. Thái độ khiêm tốn có thể bày tỏ qua cách nói, như sau khi trả lời xong câu hỏi, diễn giả có thể nói thêm một câu mang tính học hỏi ("I hope I have answered your question", "I would like to hear more from you"), hay quay về phía khán phòng ("I hope someone in this audience can provide further information"). Tỏ thái độ khiêm tốn bằng ngôn ngữ cơ thể, như chăm chú câu hỏi và nhìn vào người hỏi với ánh mắt thân thiện. Tuyệt đối không đút tay vào túi quần, không chống nạnh, không cầm hai vành podium như tổng thống, không giơ tay chỉ trỏ về phía khán giả (như kiểu ông gì đó của Bộ ngoại giao).


    Thành thật trong cách trả lời có nghĩa là nếu diễn giả không có câu trả lời, không biết, hay không rõ thì cứ thú nhận. Chẳng có gì phải mắc cỡ khi thú nhận mình không biết. Cách xử lí trong trường hợp này là nói một câu ngắn gọn, kiểu như: 


    • "That is an important question, but I must admit that I have no answer for that" (Đó là một câu hỏi quan trọng, nhưng tôi phải thú nhận là tôi không có câu trả lời"); hoặc 


    • "To be honest with you, I don't know" (thú thật với ông là tôi không biết). 


    • Một cách khác là "đá" câu trả lời sang thầy của mình hay về phía khán giả, như "I am not a qualified person to answer that question, but I guess Professor Nguyen may want make some comments" (tôi không đủ tư cách để trả lời câu hỏi đó, nhưng tôi đoán rằng Giáo sư Nguyen có lẽ muốn có vài bình luận -- chỉ nói câu này khi đã có thoả thuận với thầy).


    Nguyên tắc 4: Trả lời một cách tự tin


    Một khi đã đứng lên trình bày báo cáo trước khán giả thì diễn giải phải tự tin vào nghiên cứu của mình. Cho dù là kết luận có thể bị chất vấn, nhưng diễn giả vẫn phải nói rằng kết luận của mình là dựa vào dữ liệu (nếu sự thật là vậy), chứ không phải "nói trên mây". Tự tin còn thể hiện qua sự hào hứng. Không gì chán hơn khi nghe một bài nói chuyện mà diễn giải nói như "nói cho có nói", ê a với những hình ảnh và con số, mà không tỏ ra yêu thương đứa con tinh thần của mình. Do đó, khi trả lời câu hỏi cũng nên tỏ ra mình có nhiệt huyết và hăng hái lắng nghe ý tưởng mới, và những gì mình có để đóng góp vào y văn thế giới. Cách nói có thể là "Well, you know, I am very excited to tell you more about that issue ..." (Cách nói "Well, you know" là cố tình làm cho không khí thân thiện hơn, chứ trong thực tế nói thì ít sử dụng).


    Nguyên tắc 5: Trả lời với chứng cứ


    Nguyên tắc trả lời câu hỏi quan trọng nhất là dựa vào chứng cứ. Chứng cứ ở đây có thể là những nghiên cứu trước hay những thông tin có thể trích dẫn được từ các công trình có bình duyệt. Tuyệt đối tránh dùng thông tin từ các trạm thông tin internet hay wiki vì điều đó cho thấy diễn giả lười biếng tìm thông tin.


    Một điều liên quan cần phải tránh là đừng bao giờ tỏ ra thái độ mà tiếng Anh gọi là "trust me attitude". Chúng ta hay thấy và nghe những cách trả lời như "Chúng tôi có kinh nghiệm trong lĩnh vực này 20 năm" như là một cách "bảo kê" cho quan điểm, cho phương pháp của họ. Đó là cách trả lời rất dở, vì kinh nghiệm không thể nào thay thế khoa học được, và kinh nghiệm cá nhân (cho dù cá nhân đó nổi tiếng cỡ nào) thì không thể nào lấy ra làm chân lí. Cần phải tránh cách trả lời đó, và thay vào đó là cách trả lời dựa vào chứng cứ. Lấy một ví dụ từ một công trình nổi tiếng nào đó để làm chứng cứ, chẳng hạn như "I would like to emphasize that our methodology/approach is a standard in the field, and it has previously been used by the UCLA research group" (tôi muốn nhấn mạnh là phương pháp của chúng tôi là chuẩn trong chuyên ngành, và nó đã từng được nhóm UCLA sử dụng trước đây).


    Những cách ứng phó câu hỏi: Còn mẹo trả lời câu hỏi thì rất khó nói hết được, do còn tuỳ thuộc vào tình huống. Nhưng tựu trung lại, kinh nghiệm của tôi là có mấy loại câu hỏi sau đây, và tôi mách cho các bạn cách ứng đáp sao cho đáp ứng 5 nguyên tắc trên.


    1. Câu hỏi loại liên kết


    Thỉnh thoảng người nghe muốn đặt nghiên cứu của diễn giả trong bối cảnh, và họ thường có những câu hỏi mang tính "cò mồi" như "Is there any literature relating to ..." (Có nghiên cứu nào trước đây liên quan đến ...). Đối với những câu hỏi loại này thì rất dễ trả lời, nếu diễn giả nắm được vấn đề và "on top of things". Cách trả lời tốt nhất là vào đầu cám ơn họ ("Thank you for your question"), và sau đó là đi thẳng vào câu trả lời: "As far as I know, a number of groups around the world have been exploring this area ..." (Theo như tôi được biết thì có vài nhóm trên thế giới đã và đang khai thác đề tài này).


    2. Câu hỏi loại thách thức


    "Thách thức" ở đây không mang tính tiêu cực như người mình hay hiểu; nó mang tính challenge, tức là làm cho diễn giả phải suy nghĩ về phương pháp, về cách diễn giải, về kết luận của mình. Người lịch sự thường hay hỏi kiểu "I think there is an alternative interpretation to your data..." (Tôi nghĩ có một cách diễn giải khác về dữ liệu của anh). Đó là câu hỏi gián tiếp và lịch sự nói "Anh nói sai rồi"! Cách đối phó với câu hỏi loại này là "Thank you very much for offering another interpretation of my data. I think it is possible that the interpretation is correct, but I would like to think that my interpretation is more consistent with the data. Let me explain why ..." (Cám ơn ông rất nhiều về cách diễn giải khác. Tôi nghĩ cách diễn giải đó có thể đúng, nhưng tôi muốn nghĩ rằng cách diễn giải của tôi phù hợp với dữ liệu hơn. Để tôi nói thêm một chút ...)


    Những câu hỏi thách thức có khi cần phải đặt vào bối cảnh và trả lời thông minh. Có lần tôi chỉ cho một em nghiên cứu sinh và kết quả rất mĩ mãn. Câu hỏi là "The relative risk of death associated with the gene was only 1.05, and yet it is statistically significant. Do you think it is clinically significant?" (Cái tỉ số nguy cơ tử vong liên đến gen chỉ có 1.10, vậy mà nó có ý nghĩa thống kê. Vậy theo anh, nó có ý nghĩa lâm sàng không?) Câu hỏi này rất "ác độc", vì nó đánh đổ cái phát hiện quan trọng. Cách trả lời tôi bày cho em ấy là "You are absolutely right that the relative risk was modest, but I would like to think that it is clinically important. Now, approximately 30% of people have the exposed genotype, so approximately 3% of deaths is attributable to the gene, and I think that is highly relevant" (Ông rất đúng là cái mức độ ảnh hưởng rất nhỏ, nhưng tôi muốn nghĩ rằng nó có ý nghĩa lâm sàng. Bởi vì 30% cá nhân mang cái gen này, do đó, có thể ước tính rằng gần 3% tử vong là do gen này. Tôi nghĩ đó là mức độ ảnh hưởng rất quan trọng).


    3. Câu hỏi loại "sao ngươi quên ta"


    Có một loại câu hỏi hay được đặt ra, mà người hỏi có ý nghĩa khác. Đó là câu hỏi kiểu "We have been working on this area for quite a while, and we found that the effect was not as strong as your observation" (chúng tôi đã làm về vấn đề này khá lâu rồi, và chúng tôi thấy mức độ ảnh hưởng không lớn như anh quan sát). Đây là loại câu hỏi mà ý đằng sau là "Tôi đã làm trước anh, vậy mà anh được mời báo cáo, còn tôi thì không." Cách đối phó với câu hỏi loại này là "Thank you for your question. Of course, we are aware of your great work in this area, and in fact our work has been built on your earlier studies ..." (Dĩ nhiên, chúng tôi biết các công trình của ông, và thật ra mà nói công trình của chúng tôi cũng được xây dựng trên cơ sở những công trình của ông). Nói vậy để "xua đuổi" cho họ đi, mà cùng lúc làm cho họ ... hài lòng.


    4. Câu hỏi đề nghị cho ý kiến


    Đây là những câu hỏi loại "what do you think" (chị nghĩ gì). Trong hội nghị khoa học, chúng ta hay thấy và nghe những câu hỏi loại này, và cách trả lời cũng không quá khó khăn. Trước hết cần phải hiểu rằng đó là một dạng yêu cầu diễn giải nói thêm, và nếu cần, nói ra ngoài đề tài nghiên cứu của mình. Đây là một loại câu hỏi thử xem diễn giả có cái nhìn bao quát, cái nhìn của người biết mình đang làm gì và đang ở đâu trong chuyên ngành.


    Có hai cách để trả lời: cụ thể và chung chung. Cách cụ thể là nghĩ đến những gì mình sẽ làm tiếp và đưa ra một định hướng. Ví dụ như, "Well, that is a good question that has bothered me for quite some time. I think there are three more issues we need to address ...." (Ờ, tôi nghĩ đó là một câu hỏi hay, và nó cũng đã làm hao tổn tâm trí tôi một thời gian. Tôi nghĩ trong tương lai chúng ta cần giải quyết 3 vấn đề ...). Sau đó, đừng quên nói thêm một câu "I am not sure whether I have answered your question adequately" (Tôi không chắc là tôi đã trả lời câu hỏi của ông một cách đầy đủ).


    Cách trả lời thứ hai là .... không biết, nhưng "đá" ngược câu hỏi về cho người hỏi: "Well, it is a very interesting question that I will invest more time to think about it" (Đó là một câu hỏi thú vị, mà tôi sẽ đầu tư thêm thời gian để suy nghĩ về nó"), rồi sau đó đá sang người hỏi: "I am keen to hear your comments on this" (Tôi rất muốn nghe ông bình luận về vấn đề này).


    5. Đề nghị nhưng giả dạng câu hỏi


    Có những câu hỏi tuy mang danh là "hỏi" nhưng thực chất là yêu cầu diễn giả làm theo họ. Đó là những câu hỏi kiểu như "We have approached the problem by using this methodology, I am wondering if you had used the same approach what would be your conclusion" (Chúng tôi từng tiếp cận vấn đề bằng phương pháp này, và tôi nghĩ không biết kết luận của anh sẽ ra sao nếu anh dùng phương pháp đó). Để đối phó với những câu hỏi loại này, cách tốt nhất là làm cho họ đẹp lòng, và nói "I think that is a wonderful suggestion, thank you. We will definitely use that approach next time" (Tôi nghĩ đó là một đề nghị tuyệt vời, cám ơn. Chúng tôi chắc chắn sẽ dùng phương pháp đó trong tương lai).


    6. Câu hỏi ngoan cố, cố chấp


    Trong các hội nghị khoa học, thỉnh thoảng cũng có những người cố chấp, muốn làm khó hoặc hạ bệ diễn giả. Những người này không bao giờ hài lòng với câu trả lời của diễn giả, mà lúc nào cũng lăm le tranh biện, chỉ trích. Đối với loại người này thì khán giả rất dễ nhận ra, nên cách hay nhất là lấy lòng đám đông bằng cách nói như "I understand your concern, but I think we can discuss the issue after the seminar. Right now, I think it is sensible to give the audience a chance to ask other questions" (Tôi hiểu mối quan tâm của ông, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể thảo luận sau buổi seminar. Còn bây giờ tôi nghĩ cách tốt nhất là chúng ta nên để cho khán giả hỏi câu hỏi khác).


    7. Nghe không rõ hoặc không hiểu


    Nếu không hiểu câu hỏi hay nghe không rõ, có thể yêu cầu người đặt câu hỏi nói lại. Trong những khán phòng rộng với hàng ngàn người dự, rất khó có thể nghe hết câu hỏi. Có nhiều diễn giả là người mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ thì vấn đề hiểu rõ câu hỏi còn khó hơn nữa. Nếu không hiểu rõ hay không nghe rõ, diễn giả có thể ôn tồn hỏi lại, chẳng hạn như "I am really sorry that I could not hear your question clearly. Could you please repeat the question" (Tôi thật sự xin lỗi là tôi không nghe rõ câu hỏi của ông. Xin ông làm ơn lặp lại câu hỏi). Nếu không hiểu câu hỏi vì họ dùng từ ngữ phức tạp hay dùng tiếng lóng (vâng, khoa học cũng dùng tiếng lóng), thì một cách khác để nói là "I am sorry that I have trouble of understanding your question. I am wondering whether you could please express it in another way" (Tôi xin lỗi là tôi gặp trở ngại trong việc hiểu câu anh hỏi. Anh làm ơn nói lại câu hỏi một cách khác được không). Không có gì phải xấu hổ nếu nói mình không hiểu câu hỏi.


    8. Không có ai hỏi


    Thỉnh thoảng sau khi xong bài nói chuyện, chẳng ai đặt câu hỏi. Đây là thời gian đáng sợ nhất, vì sự im lặng. Có vài lí do tại sao người ta im lặng. Thứ nhất là diễn giả nói quá tốt, quá đầy đủ, nên chẳng ai hỏi, nhưng tình huống này khó xảy ra. Thứ hai là tác giả nói quá phức tạp, khó theo dõi, nên chẳng ai biết hỏi câu gì, và trường hợp này là tín hiệu cho thấy diễn giả đã thất bại. Thứ ba là diễn giả nói quá giờ, nên khán giả bực mình, chẳng cần quan tâm. Thứ tư là diễn giả tỏ là phách lối, ngạo mạn, nên khán giả cũng chẳng cần hỏi. Trong trường hợp sự "im lặng đáng sợ" xảy ra, và người chủ toạ không can thiệp, diễn giả có thể nói một câu như "I gather that some of the results I showed you earlier were complicated, so let me clarify some important points ..." (Tôi e rằng một số kết quả tôi trình bày có vẻ phức tạp. Xin cho tôi giải thích thêm). Đó cũng là một cách để phá vỡ sự im lặng và mời câu hỏi.


    Đó là một số mẹo mà tôi học được trong quá khứ, và từ đó tôi đúc kết thành 5 nguyên tắc. Tôi nghĩ trong thực tế còn nhiều tình huống và câu hỏi khác mà tôi chưa nghĩ ra hết hay chưa trải nghiệm qua. Hi vọng rằng các bạn có thể thêm vào để cùng nhau học hỏi. Như tôi từng nói, và nói lại ở đây một lần nữa, để thành công trong khoa bảng, phải học cách viết và cách nói -- hai khía cạnh mà người Việt chúng ta rất kém. Hi vọng rằng các bạn có dịp thực hành và tôi tin rằng nếu làm đúng thì các bạn sẽ thành công trong hội nghị.





  • xahoihoctap.NET
    Author: Social Learning Network
    About: Teaching resource - the 1st Vietnamse Portal in Metallurgy and Materials Technology. Cổng thông tin về lĩnh vực luyện kim và kỹ thuật vật liệu. Lĩnh vực chủ chốt: gang trắng Cr cao, thiêu kết xung điện plasma, xử lý nhiệt, tự động hóa trong luyện kim, luyện kim phi coke, động học hoàn nguyên Oxit sắt.

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: