Nguyễn Văn Tuấn's Blog

Category: Phiếm luận Published: 11 October 2009
Hits: 6555

tuan's blog

  • Những vấn đề đào tạo tiến sĩ

    Posted on: 16 November 2017, 12:13 pm




    Đem con bỏ chợ


    PV:- Mới đây Bộ GD-ĐT có đưa ra dự thảo Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2018-2025, tầm nhìn 2030”, gửi tới các Bộ, ngành và các trường để xin ý kiến. Theo dự thảo, mục tiêu chung của đề án là đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt tỉ lệ 35% (khoảng 9000 tiến sĩ) tổng số giảng viên các cơ sở giáo dục đại học. Thời gian thực hiện đề án từ năm 2018 đến năm 2025, tầm nhìn 2030, với mức đầu tư 12000 tỷ đồng.


    Trước đó, Bộ GD-ĐT từng đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ phải đạt 20.000 tiến sĩ, việc đưa ra các mục tiêu về con số đào tạo tiến sĩ để hoàn thiện trong một thời gian cụ thể như vậy, theo ông, có cần thiết hay không? Có thêm nhiều Tiến sĩ có đồng nghĩa với việc chất lượng giảng viên, cũng như chất lượng đào tạo tại các trường Đại học được nâng cao hay không, thưa ông?


    NVT: - Mục tiêu của việc đào tạo tiến sĩ là xây dựng một cộng đồng nhà khoa học chuyên nghiệp, cung ứng giảng viên cho các đại học và kĩ nghệ. Thế nhưng, Việt Nam hiện nay có vấn đề về sử dụng nguồn nhân lực này. Việt Nam hiện có hơn 24.300 tiến sĩ, nhưng theo Bộ GD-ĐT thì chỉ có 16.514 người làm việc trong các Đại học; như vậy còn gần 8.000 tiến sĩ không làm trong khoa học? Đó có thể là một sự bất hợp lí. Chưa hết, Việt Nam có hơn 9000 giáo sư và phó giáo sư, nhưng chỉ có gần 4700 người làm việc trong các đại học. Đó là một điều bất hợp lí nghiêm trọng và đặt câu hỏi về chức danh giáo sư.

    Một con số khác cũng quan trọng không kém là tỉ lệ giảng viên đại học có bằng tiến sĩ. Bộ GD-ĐT báo cáo rằng hiện nay có 23% giảng viên đại học có bằng đại tiến sĩ, nhưng số liệu năm 2013 cho thấy trong số gần 60.000 giảng viên đại học, chỉ có 8519 (tức 14%) có bằng tiến sĩ. Rất khó hiểu chỉ trong vòng 3-4 năm mà nhảy vọt lên 24%. Ngay cả ở Mã Lai, Bộ GD-ĐT báo cáo rằng có đến 70% giảng viên có bằng tiến sĩ, nhưng số liệu của UNESCO cho thấy năm 2012 chỉ có 20% giảng viên đại học Mã Lai có bằng tiến sĩ (con số 70% là số giảng viên có bằng tiến sĩ và cao học).


    Vấn đề đào tạo tiến sĩ cho giảng dạy và nghiên cứu là vấn đề của các đại học. Do đó, tôi nghiêng về chủ trương để cho các đại học tự quản lí; và Bộ chỉ đề ra cái khung và chuẩn mực về phẩm chất đào tạo chứ không nên đề ra những con số mà chúng ta đã biết chưa bao giờ hợp lí cho tất cả các nơi và các trường.


    Ví dụ như con số 12.000 tỉ đồng (tức khoảng 600 triệu USD), hay tính trung bình đào tạo mỗi tiến sĩ tốn khoảng 67.000 USD. Nhưng chúng ta biết rằng 67.000 USD là chi phí quá cao ở trong nước, nhưng lại quá thấp ở nước ngoài. Ở Úc, học phí cho một chương trình 3 năm đào tạo tiến sĩ dao động tư 90.000 đến 150.000 USD.


    PV:- Cũng đã có nhiều chuyên gia chỉ rõ, dù Việt Nam có nhiều tiến sĩ, thậm chí tiến sĩ đào tạo nước ngoài kết quả nghiên cứu tốt, nhưng số lượng công trình khoa học được công bố quốc tế lại thấp nhất trong khu vực. Cụ thể, số công trình của Việt Nam được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế chỉ bằng 1/3 của Thái Lan, 1/4 của Malaysia và 1/5 của Singapore. Điều này thể hiện về chất lượng đào tạo tiến sĩ của Việt Nam ở các trong nước và nước ngoài ra sao, thưa ông? Có ý kiến cho rằng, có phải các chương trình đào tạo ở nước ngoài có yếu tố ngoại giao nên kết quả ai cũng tốt, nhưng chất lượng thực sự thì không phải như vậy? Ông đồng tình ở mức độ nào về ý kiến này? Và kinh nghiệm thực tế của ông ra sao?


    NVT: - Chủ trương đào tạo tiến sĩ và công bố nghiên cứu khoa học là hai vấn đề khác nhau. Như nói trên, Việt Nam tuy có nhiều tiến sĩ nhưng có ít công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tập san khoa học có bình duyệt (tôi gọi tắt là "công bố khoa học").


    Tôi chỉ có thể suy diễn rằng lí do là do đa số 24.300 tiến sĩ hiện có là được đào tạo ở trong nước, và yêu cầu cũng như tiêu chuẩn học thuật tiến sĩ ở trong nước nói chung, chứ không nói riêng cho ngành nào, không cao như ở các nước tiên tiến.


    Một trong những yêu cầu về đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài là ứng viên phải có công bố khoa học thì mới được bảo vệ luận án, còn ở trong nước thì cũng có yêu cầu đó nhưng lại là công bố trên các tập san ở trong nước. Điều này dẫn đến số lượng công trình khoa học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế thấp hơn nhiều so với các nước trong vùng (dù các nước này có lẽ không có nhiều tiến sĩ như ở Việt Nam).


    Còn ý kiến cho rằng các nước tiên tiến "đào tạo ngoại giao" cho Việt Nam (hiểu theo nghĩa cho nghiên cứu tốt nghiệp dù họ chưa đạt tiêu chuẩn về công bố khoa học) thì cũng có, nhưng không nhiều. Đúng là có những nghiên cứu sinh tốt nghiệp tiến sĩ từ các nước như Mĩ, Úc, Pháp, Canada, nhưng họ chưa bao giờ có công trình được công bố trên các tập san có uy tín. Lí do có thể là do thời gian ngắn nên không đủ để công bố, nhưng cũng có thể do áp lực từ trường đại học phải cho ra trường để không bị phiền phức với phía Việt Nam.


    Trong vài năm gần đây, đã có nhiều than phiền về phẩm chất đào tạo tiến sĩ ở Úc, vì có nơi cho nghiên cứu sinh ra trường mà họ chưa đủ phẩm chất của một tiến sĩ. 


    Nên nhớ rằng ở nước ngoài, các đại học cũng có đẳng cấp ngay trong một nước, và tiêu chuẩn đào tạo tiến sĩ giữa các trường không đồng đều nhau. Tôi đã từng thấy có trường ở Úc nhận nghiên cứu sinh từ Việt Nam rất tuỳ tiện và giao cho họ những chủ đề nghiên cứu rất hời hợt. Đó là chưa kể đến tình trạng nhiều giáo sư ở nước ngoài (cụ thể là Úc) có xu hướng nhận nghiên cứu sinh qua như kiểu "đem con bỏ chợ", để cho họ tự xoay xở, nên hệ quả là phẩm chất đào tạo không được đảm bảo.


    Vả lại, cũng đừng quá kì vọng vào tiến sĩ mới được đào tạo từ nước ngoài. Hoàn tất chương trình tiến sĩ chỉ mới là bước đầu trong khoa học, nghiên cứu sinh chưa thể độc lập được, chưa thể tự mình làm nghiên cứu khoa học và công bố khoa học mà không có sự hỗ trợ từ thầy.


    Điều này giải thích tại sao nhiều nghiên cứu sinh về nước không "phát huy" được khả năng, bởi vì họ chưa ở trình độ có thể làm nghiên cứu độc lập. Để trở thành nhà khoa học độc lập, nhiều nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp tiến sĩ còn trải qua một giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sĩ từ 3 đến 10 năm (tùy ngành).


    Còn nghiên cứu sinh từ Việt Nam thì rất khó có cơ hội làm nghiên cứu hậu tiến sĩ, vì hoặc là họ không thể xin được một suất nghiên cứu hậu tiến sĩ, hoặc là họ bị buộc phải trở về nước. Thành ra, nhiều nghiên cứu sinh khi về nước thì trở thành "nửa thầy nửa thợ," không phải là lỗi của họ, mà là lỗi của hệ thống.


    Nhưng không hẳn ai chưa qua hậu tiến sĩ đều thiếu kinh nghiệm. Khi phỏng vấn các ứng viên cho chức vụ “Assistant Professor” ở Đại học Tôn Đức Thắng, tôi phát hiện nhiều người có thành tích khoa học rất tốt, chẳng kém gì so với các đồng môn ở Mĩ hay Úc cả. Tuy nhiên, tất cả các ứng viên này đều được đào tạo ở nước ngoài từ những trường có tiếng.


    Tiến sĩ Việt Nam cái gì cũng biết chút chút


    PV:- Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, việc đào tạo tiến sĩ chỉ là các làm để đủ tiêu chuẩn mở ngành, mở trường trong hệ thống giáo dục, xây dựng thương hiệu cho nhà trường. Còn việc đào tạo tiến sĩ ngoài bộ phận giáo dục chỉ là học cho có học vị để đề bạt, lên chức, chứ không vì chất lượng học thuật.

    Đây có phải nguyên nhân chính của thành tích tiến sĩ hay không? Nếu xác định nguyên nhân như vậy thì phải điều chỉnh thế nào?


    NVT: - Tôi cũng thấy nhiều khi văn bằng tiến sĩ chỉ là một cách hợp thức hoá các chức vụ đã được “qui hoạch”. Có người còn đề ra mục tiêu cụ thể như đến năm nào thì tất cả quan chức phải có bằng tiến sĩ.


    Những suy nghĩ và chủ trương như thế chẳng những làm lệch ý nghĩa thật của văn bằng tiến sĩ, mà còn có hiệu quả tầm thường hoá văn bằng cao nhất trong hệ thống khoa bảng. Tôi nghĩ cần phải xem lại những tiêu chuẩn đề bạt và bổ nhiệm quan chức, không nên quá xem trọng văn bằng tiến sĩ (vì họ chẳng cần), mà nên chú ý đến khả năng giải quyết vấn đề và quản lí cho tốt và có đạo đức.


    PV:- Nhiều người muốn được nhìn nhận vấn đề khách quan hơn, không chỉ là người Việt chê người Việt. Vậy ông đã từng trao đổi với bạn bè thế giới về số lượng cũng như chất lượng tiến sĩ của Việt Nam chưa? Họ đánh giá như thế nào? Xin ông chia sẻ?


    NVT: - Tôi không thể nhìn thấy hết những quan tâm của người nước ngoài, mà chỉ có thể nói qua kinh nghiệm tiếp xúc ở mức độ cá nhân mà thôi.


    Một vị giáo sư Úc có nhiều kinh nghiệm về giáo dục đại học ở Việt Nam từng nhận xét rằng các quan chức giáo dục của Việt Nam ai cũng có bằng cấp cao nhưng khi phát biểu hay làm thì họ thể hiện cái mà ông gọi là “incompetent”.


    Một giáo sư y khoa thì dí dỏm cho rằng tiến sĩ Việt Nam có vẻ cái gì cũng biết nhưng biết chút chút thôi. Mới hôm nay, tôi nhận được email của một giáo sư Úc mới đi dự một hội nghị y khoa ở Hà Nội về, ông phàn nàn rằng phẩm chất khoa học của những báo cáo trong hội nghị có vẻ chẳng cải tiến gì so với 20 năm trước.


    Trong thực tế chẳng có bao nhiêu người nước ngoài quan tâm đến vấn đề phẩm chất đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam, vì đó là vấn đề địa phương. Khi cạnh tranh xin việc và xin các làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ở nước ngoài thì sẽ lộ rõ những khiếm khuyết trong đào tạo và những điểm yếu của nghiên cứu sinh Việt Nam.


    Sáu việc cần làm


    PV:- Để nâng cao chất lượng đào tạo, Việt Nam nên làm gì thay vì chạy theo cuộc đua có thật nhiều tiến sĩ? Kinh nghiệm thế giới trong chuyện này ra sao?

    NVT: - Đây là một câu hỏi lớn và đã từng được bàn bạc rất nhiều lần trong quá khứ. Trong việc đào tạo tiến sĩ (hay giáo dục nói chung), tuyệt đối không nên chạy theo số lượng, mà phải duy trì phẩm chất đào tạo. Tôi có khi cảm thấy "trầm cảm" khi nghe những người lãnh đạo than phiền là chúng ta thiếu tiến sĩ hay phải có tiến sĩ thì tư duy mới đột phá, đó là những suy nghĩ hết sức lệch lạc.


    Phải xác định rõ ràng rằng mục tiêu đào tạo tiến sĩ là đào tạo ra những nhà khoa học chuyên nghiệp (professional scientists), những người có khả năng đóng góp vào nền khoa học và giáo dục đại học nước nhà. Để đạt mục tiêu đó, tôi nghĩ Việt Nam cần làm rất nhiều việc để cải tiến phẩm chất đào tạo tiến sĩ, nhưng trước mắt tôi nghĩ những việc làm như sau:


    Xác lập các tiêu chuẩn về phẩm chất đào tạo. Cần phải đề ra những tiêu chuẩn cụ thể cho một học vị tiến sĩ, từ kiến thức, kĩ năng, đến suy nghĩ lớn, và nhất là công bố khoa học. Một khi nghiên cứu sinh đạt được những tiêu chuẩn này thì có thể ra trường mà không cảm thấy thua kém đồng môn ở nước ngoài.


    Rà soát và sàng lọc những trung tâm có khả năng đào tạo tiến sĩ. Không phải ai có chức danh giáo sư hay phó giáo sư đều có thể đào tạo tiến sĩ; chỉ có những người có những chương trình nghiên cứu cụ thể, có thành tích khoa học đủ "dày" mới có thể hướng dẫn nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ. Cần nhớ rằng người ta đánh giá nghiên cứu sinh một phần là qua người thầy.


    Đào tạo tiến sĩ nên theo hình thức "tập trung", có nghĩa là nghiên cứu sinh phải làm việc trong labo nghiên cứu toàn thời gian. Hiện nay, tôi thấy đào tạo tiến sĩ ở trong nước rất khác nước ngoài, vì nghiên cứu sinh chỉ ở nhà hay làm việc gần như thường qui chứ chẳng có tham gia vào các hoạt động học thuật gì cả. Không thấy nghiên cứu sinh tham gia seminar, workshop, journal club, vốn là những sinh hoạt rất căn bản trong học thuật.


    Thiết lâp những chương trình nghiên cứu hậu tiến sĩ. Như nói trên, tốt nghiệp tiến sĩ chỉ là bước khởi đầu, nghiên cứu sinh còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sĩ để rèn luyện kĩ năng và tiếp thu kinh nghiệm đủ để định hình một nhà khoa học độc lập có thể giảng dạy cho người khác.


    Thiết lập những labo hay nhóm nghiên cứu để tạo điều kiện và môi trường cho nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ. Rất khó gửi nghiên cứu sinh Việt Nam sang các labo nước ngoài vì khả năng cạnh tranh của nghiên cứu sinh trong nước còn thấp. Do đó, cần phải có những labo hay nhóm nghiên cứu trong nước sẵn sàng tiếp nhận nghiên cứu sinh trong nước để tạo điều kiện cho họ làm nghiên cứu sau tiến sĩ. Không ai giúp cho mình cả; mình phải tự giúp đỡ lẫn nhau.


    Tinh giản hóa quá trình đào tạo, bỏ hết những thủ tục rườm rà chỉ làm khổ nghiên cứu sinh và tạo điều kiện cho tham nhũng. Có nhiều nghiên cứu sinh có khả năng nhất định không học tiến sĩ ở trong nước chỉ vì thủ tục "hành là chính" quá kinh khủng. Thủ tục và qui trình đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam là một "ác mộng" đối với nhiều nghiên cứu sinh, vì họ phải trải qua nhiều khâu và bước không cần thiết và tạo cơ hội cho những người xấu tính và xấu nết đàn áp và nhũng nhiễu nghiên cứu sinh. Phải tinh giản hệ thống và qui trình đào tạo như nước ngoài để cho các nghiên cứu sinh tương lai thấy họ được tôn trọng và bình đẳng.


    Tôi nghĩ nếu làm được những việc trên thì các chương trình đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam sẽ được đồng nghiệp trên thế giới đánh giá tốt.


    Châu An


  • Bảng xếp hạng khoa học "Nature Index"

    Posted on: 9 November 2017, 2:53 am



    Nature Index là một bảng xếp hạng dựa trên phân tích ấn phẩm khoa học (bibliometrics). Nhưng họ chỉ chọn các tập san hàng đầu trong khoa học tự nhiên (2). Một điều ngạc nhiên là họ không chọn các tập san lừng danh như NEJM, JAMA, Ann Int Med, JCI, v.v. Họ dựa trên 3 chỉ số sau đây: số bài báo khoa học (gọi là Article Count), số bài báo sau khi đã hiệu chỉnh (Fractional Count), và trọng số bài báo (Weighted Fractional Count – WFC). Cách họ đếm như sau:

    1. Article Count (AC) thì chỉ đơn giản là số bài báo khoa học công bố, nhưng chỉ tính trên những tập san có ảnh hưởng cao mà thôi. Họ dùng chữ “highly selective journals” nhưng không nói tập san nào. Nếu một bài báo có tác giả của 3 nước [ví dụ như] Việt Nam, Mĩ, và Úc, thì mỗi nước được tính 1 bài!


    2. Fractional Count (FC) là số bài báo của một nước sau khi đã điều chỉnh cho mức độ đóng góp của mỗi nước cho bài báo. Cách họ định lượng đóng góp cũng đơn giản: nếu bài báo có 10 tác giả, thì mỗi tác giả có 1/10 điểm. Từ đó, họ cộng điểm hiệu chỉnh cho mỗi nước.


    3. Weighted fractional count (WFC) cũng là số bài báo FC nhưng sau khi đã hiệu chỉnh cho các bài báo thuộc lĩnh vực astronomy và astrophysics, vì chỉ 4 tập san trong 2 lĩnh vực này công bố khoảng 50% tất cả các bài báo trong chuyên ngành! Như vậy, có thể nói đếm dựa trên WFC là khách quan nhất.


    Danh sách 100 nước hàng đầu tôi trình bày lại bằng biểu đồ sau đây: 


    Năm nay (2017), Việt Nam công bố được 52 bài trên các tập san hàng đầu, nhưng phn lớn chỉ là "ăn theo", nên tính WFC thì chỉ còn tương đương 8 bài. Với con số này, Việt Nam đứng hạng 57 trên 163 nước. Thái Lan có 184 bài, và WFC 22.33 (hạng 46), cao gần 3 lần so với Việt Nam. Riêng trong nước thì có 10 trường/viện hàng đầu như sau:


    1.     Viện hàn lâm khoa học

    2.     ĐH Tôn Đức Thắng

    3.     ĐH Quốc gia HCM

    4.     ĐH Sư phạm HCM

    5.     ĐH Mỏ - Địa chất Hà Nội

    6.     ĐH Duy Tân

    7.     ĐH Khoa học và công nghệ Hà Nội

    8.     ĐH Vinh

    9.     ĐH Y Dược TPHCM

    10.  ĐH Cần Thơ



    Nếu lấy mối liên quan giữa WFC và AC làm mối liên quan chuẩn, chúng ta có thể đánh giá năng suất của Việt Nam cao hay thấp hơn kì vọng. Biểu đồ dưới đây cho thấy Việt Nam có năng suất thấp hơn kì vọng (và nằm trong nhóm các nước nghèo như Nam Dương, Panama, UAE). Nhưng các nước như Tàu, Đức, Anh, Nhật, Pháp thì họ có năng suất cao hơn giá trị kì vọng. Nói cách khác, năng lực công bố trên các tập san elite của Việt Nam chẳng những thấp mà còn thấp hơn kì vọng, còn các nước tiên tiến thì họ có năng lực cao hơn nhiều sao với các nước "nghèo".



    Riêng Tàu là đáng nể, chỉ đứng hạng 2 (sau Mĩ). Năm 2016 Tàu công bố được 9633 bài trên các tập san elite, và WFC là 6443, vượt hơn giá trị kì vọng là 704. Hiểu một cách khác là thành tích của Tàu vượt trội kì vọng 9 lần! Một cách hiểu khác nữa là nội lực của họ cao, vì công trình của họ không có nhiều đồng tác giả người nước ngoài.


    ===


    (1) https://www.natureindex.com/country-outputs/generate/All/global/All/weighted_score

    (2) Các tập san mà Nature Index xem xét là:


    §  Advanced Materials (952 articles)

    §  American Journal of Human Genetics (176 articles)

    §  Analytical Chemistry (1466 articles)

    §  Angewandte Chemie International Edition (2329 articles)

    §  Applied Physics Letters (2926 articles)

    §  Astronomy & Astrophysics (1763 articles)

    §  Cancer Cell (95 articles)

    §  Cell (315 articles)

    §  Cell Host & Microbe (101 articles)

    §  Cell Metabolism (130 articles)

    §  Cell Stem Cell (90 articles)

    §  Chemical Communications (2493 articles)

    §  Chemical Science (663 articles)

    §  Current Biology (388 articles)

    §  Developmental Cell (156 articles)

    §  Earth and Planetary Science Letters (580 articles)

    §  Ecology (347 articles)

    §  Ecology Letters (88 articles)

    §  European Physical Journal C (759 articles)

    §  Genes & Development (167 articles)

    §  Genome Research (169 articles)

    §  Geology (276 articles)

    §  Immunity (139 articles)

    §  Inorganic Chemistry (1391 articles)

    §  Journal of Biological Chemistry (1846 articles)

    §  Journal of Cell Biology (192 articles)

    §  Journal of Clinical Investigation (253 articles)

    §  Journal of Geophysical Research: Atmospheres (348 articles)

    §  Journal of Geophysical Research: Oceans (450 articles)

    §  Journal of Geophysical Research: Solid Earth (244 articles)

    §  Journal of High Energy Physics (1926 articles)

    §  Journal of Neuroscience (971 articles)

    §  Journal of the American Chemical Society (2189 articles)

    §  Molecular Cell (268 articles)

    §  Monthly Notices of the Royal Astronomical Society (3378 articles)

    §  Nano Letters (1198 articles)

    §  Nature (757 articles)

    §  Nature Biotechnology (86 articles)

    §  Nature Cell Biology (107 articles)

    §  Nature Chemical Biology (180 articles)

    §  Nature Chemistry (154 articles)

    §  Nature Communications (3565 articles)

    §  Nature Genetics (185 articles)

    §  Nature Geoscience (128 articles)

    §  Nature Immunology (105 articles)

    §  Nature Materials (126 articles)

    §  Nature Medicine (134 articles)

    §  Nature Methods (132 articles)

    §  Nature Nanotechnology (128 articles)

    §  Nature Neuroscience (150 articles)

    §  Nature Photonics (96 articles)

    §  Nature Physics (159 articles)

    §  Nature Structural & Molecular Biology (103 articles)

    §  Neuron (295 articles)

    §  Organic Letters (1582 articles)

    §  PLOS Biology (150 articles)

    §  Physical Review A (203 articles)

    §  Physical Review B (776 articles)

    §  Physical Review D (124 articles)

    §  Physical Review Letters (2317 articles)

    §  Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (2952 articles)

    §  Proceedings of the Royal Society B (602 articles)

    §  Science (692 articles)

    §  The Astrophysical Journal (2880 articles)

    §  The Astrophysical Journal Letters (439 articles)

    §  The Astrophysical Journal Supplement (151 articles)

    §  The EMBO Journal (182 articles)

    §  The Journal of Physical Chemistry Letters (787 articles)


      
  • Workshop "Thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu" 12/2017

    Posted on: 6 November 2017, 3:02 am



    Nghiên cứu khoa học có chất lượng đòi hỏi hai yếu tố quan trọng: thiết kế tốt và phân tích dữ liệu đúng phương pháp. Thiết kế nghiên cứu tốt bao gồm chọn mô hình nghiên cứu thích hợp, chọn đối tượng thích hợp, và thu thập dữ liệu đúng phương pháp. Khi thiết kế nghiên cứu tốt thì dữ liệu thu thập được mới có chất lượng cao. Dữ liệu có chất lượng cao cộng với phân tích đúng phương pháp giúp cho công trình nghiên cứu có cơ may được chấp nhận cho công bố trên các tập san khoa học.

    1. Mục tiêu


    Mục tiêu chung của khoá học là giới thiệu các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học, các mô hình nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu. Học viên sẽ làm quen với cách đặt vấn đề nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, các phương pháp thống kê cơ bản. Chúng tôi sẽ nhấn mạnh đến việc ứng dụng các phương pháp mô hình hoá dữ liệu qua một số ca nghiên cứu cụ thể của chúng tôi và các đồng nghiệp khác. Chúng tôi kì vọng học viên sau khi xong lớp học sẽ học về:


    ·       qui trình nghiên cứu;

    ·       chọn mô hình nghiên cứu thích hợp;

    ·       dùng ngôn ngữ R cho phân tích dữ liệu;

    ·       diễn giải các phương pháp phân tích mô tả;

    ·       ứng dụng các mô hình hồi qui tuyến tính, hồi qui logistic, mô hình Cox và phương pháp phân tích sống còn;

    ·       cách trình bày kết quả phân tích cho các bài báo khoa học;

    ·       cách báo cáo nghiên cứu bằng Powerpoint.


    2.  Đối tượng


    Lớp học được thiết kế dành cho các sinh viên sau đại học, nghiên cứu sinh, giảng viên, nhà khoa học có nhu cầu nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu. Tuy nhiên, sinh viên đại học cũng có thể ghi danh để học về nghiên cứu khoa học. Học viên không cần có kiến thức cơ bản về thống kê học.


    3.  Địa điểm


    Trường đại học Tôn Đức Thắng

    Số 19, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.


    4.  Giảng viên


    Giảng viên phụ trách lớp học bao gồm các nhà khoa học thực nghiệm có kinh nghiệm lâu năm về nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế: GS. Nguyễn Văn Tuấn, TS. Trần Sơn Thạch, BS. Hà Tấn Đức, và các giảng viên của Đại học Tôn Đức Thắng.


    5.  Thời gian:


    Khóa học sẽ kéo dài 12 ngày từ 25/12/2017 đến 7/1/2018. Phần I của lớp học từ ngày 25/12/2017 đến 30/12/2017. Phần II từ ngày 2/1/2017 đến 7/1/2017.  


    6.  Chương trình dự kiến


    Chương trình sẽ chia làm hai phần, mỗi phần 6 ngày. Chủ đề phần thứ nhất là thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu, với 18 bài giảng. Chủ đề phần thứ hai là về cách viết bài báo khoa học và báo cáo, với 13 bài giảng. Mỗi bài giảng sẽ kèm theo phần thực hành để học viên có kinh nghiệm thực tế. 


    Phần I: Thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu


    Ngày 1 (25/12/2017):


    ·       Bài 1 Qui trình nghiên cứu khoa học: ý tưởng nghiên cứu đến từ đâu; phân biệt thế nào là nghiên cứu khoa học và những gì không phải là nghiên cứu khoa học; qui trình nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu khoa học. 


    ·       Bài 2 Chọn mô hình nghiên cứu: giải thích các điểm yếu và điểm mạnh của các mô hình nghiên cứu cắt ngang, bệnh chứng, đoàn hệ, nghiên cứu RCT, phân tích tổng hợp.


    ·       Bài 3 Giới thiệu R: R sẽ được sử dụng cho phân tích dữ liệu trong lớp học. Bài giảng này sẽ giới thiệu ngôn ngữ R, vận hành, cách đọc dữ liệu, cách biên tập dữ liệu, và một số phân tích đơn giản. 


    Ngày 2 (26/12/2017)

    ·       Bài 4 Phương pháp thu thập dữ liệu: giới thiệu cách thu thập dữ liệu và nguyên tắc thiết kế bộ câu hỏi.


    ·       Bài 5 Quản lý dữ liệu: quản lí dữ liệu là khâu rất quan trọng cho nghiên cứu khoa học nhưng thường hay bị xem thường và dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng. Bài này sẽ giới thiệu cách sắp xếp dữ liệu sao cho thích hợp cho phân tích và những qui tắc đạo đức trong việc quản lí dữ liệu. 


    ·       Bài 6 Phân tích mô tả (biến liên tục, biến phân nhóm): giới thiệu các phương pháp phân tích mô tả như trung bình, độ lệch chuẩn, khoảng tin cậy 95%. Bài giảng nhấn mạnh đến ý nghĩa và cách diễn giải hơn là kĩ thuật.


    Ngày 3 (27/12/2017)


    ·       Bài 7 Phân tích bằng biểu đồ: trong khoa học biểu đồ đóng vai trò rất quan trọng, nhưng rất tiếc nhiều nghiên cứu có biểu đồ quá kém. Bài này sẽ giới thiệu các nguyên tắc và phương pháp soạn biểu đồ phẩm chất cao dùng các chương trình như ggplot2sjPlot. Đây là một trong những khâu rất quan trọng để hiểu dữ liệu và ý nghĩa của dữ liệu.


    ·       Bài 8 Giới thiệu ý tưởng kiểm định giả thuyết: bài giảng bàn về hai trường pháp ước tính (estimation) và kiểm định giả thuyết (hypothesis testing), và ý nghĩa của trị số P. Học viên sẽ nắm được ý nghĩa của trị số P và mối liên hệ với kiểm định giả thuyết.


    ·       Bài 9 Phương pháp so sánh 2 nhóm (biến liên tục): một trong những mục tiêu nghiên cứu cơ bản là so sánh hai nhóm. Bài giảng sẽ giới thiệu phương pháp t-test cho dữ liệu tuân theo luật phân bố chuẩn, và phương pháp bootstrap cho các dữ liệu không tuân theo luật phân bố chuẩn.


    Ngày 4 (28/12/2017)


    ·       Bài 10 Phương pháp so sánh 2 nhóm biến định tính: Bài giảng sẽ giới thiệu phương pháp z-test, Ki bình phương, và các chỉ số như odds ratio và relative risk để sử dụng cho việc so sánh hai nhóm với biến outcome là định tính hay biến nhị phân.


    ·       Bài 11 Phân tích tương quan: giới thiệu khái niệm "tương quan" (correlation) và phương pháp ước tính hệ số tương quan.


    ·       Bài 12 Mô hình hồi qui tuyến tính: giới thiệu mô hình hồi qui tuyến tính đơn giản y = a + b*x + e, giả định và phương pháp kiểm định giả định, ý nghĩa của tham số và cách diễn giải các chỉ số từ mô hình hồi qui tuyến tính.


    Ngày 5 (29/12/2017) 


    ·       Bài 13 Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến: tiếp tục mô hình hồi qui tuyến tính, bài này sẽ giới thiệu mô hình hồi qui đa biến tiên lượng (multiple linear regression) và những vấn đề liên quan đến đa cộng tuyến, cách chọn biến số có giá trị tiên lượng tốt nhất.


    ·       Bài 14 Mô hình logistic đơn biến: bài giảng sẽ giới thiệu khái niệm odds và tỉ số odds (odds ratio) và ứng dụng trong mô hình hồi qui logistic. Bài giảng sẽ tập trung vào cách diễn giải ý nghĩa của các tham số trong mô hình và ý nghĩa thực tế.


    ·       Bài 15 Mô hình logistic đa biến: tiếp tục mô hình hồi qui logistic đơn biến, bài này sẽ trình bày phương pháp phân tích với nhiều biến tiên lượng và những vấn đề kèm theo như đa cộng tuyến.


    Ngày 6 (30/12/2017)


    ·       Bài 16 Phân tích sống còn (survival analysis): nhiều nghiên cứu khoa học quan tâm đến yếu tố thời gian dẫn đến biến cố. Bài này giới thiệu phương pháp life-table và Kaplan-Meier trong việc mô tả các biến thời gian và xác suất sống còn. Phương pháp log-rank test cũng sẽ được giới thiệu qua chương trình "survival" trong R.


    ·       Bài 17 Mô hình Cox: tiếp tục phương pháp Kaplan-Meier là [mô hình] Cox's proportional hazards model. Bài giảng sẽ giới thiệu khái niệm "hazard" (rủi ro) và cách xây dựng mô hình Cox để tiên lượng một biến phụ thuộc.


    ·       Bài 18 Sai sót phổ biến trong thiết kế nghiên cứu và phần tích dữ liệu: trong thực tế có rất nhiều sai sót và thiếu sót trong phân tích dữ liệu, và những sai sót này dẫn đến bài báo bị từ chối công bố trên các tập san quốc tế.


    Phần II: Cách viết bài báo khoa học và trình bày


    Ngày 1 (2/1/2018): chủ đề kĩ năng trình bày Powerpoint


    ·       Bài 1 Kĩ năng soạn Powerpoint: bài này sẽ trình bày các nguyên tắc trong việc soạn Powerpoint, từ màu sắc, phông chữ, đến qui ước n*n, sẽ được giải thích và ứng dụng.


    ·       Bài 2 Kĩ năng trình bày trong hội nghị: bài giảng sẽ hướng dẫn cách trình bày và "protocol" trong hội nghị khoa học quốc tế. Từ cách nói, trang phục, đến dáng điệu sẽ được hướng dẫn.


    Ngày 2 (3/1/2018): chủ đề cách viết bài báo khoa học


    ·       Bài 1 Cấu trúc bài báo khoa học: bài giảng sẽ đề cập đến cấu trúc IMRaD trong bài báo khoa học và mục tiêu của từng phần.


    ·       Bài 2 Tiếng Anh trong bài báo khoa học: một phần lớn bài giảng sẽ xoay quanh vấn đề tiếng Anh (như văn phong và cách chọn từ ngữ) trong bài báo khoa học. Nguyên tắc IDEA sẽ được giới thiệu và lí giải trong cách viết bài báo khoa học.


    ·       Bài 3 Chuẩn bị trước khi viết bài báo khoa học: những bước cần chuẩn bị cho việc soạn một bài báo khoa học.


    Ngày 3 (4/1/2018)


    ·       Bài 4 Cách đặt tựa đề: tựa đề bài báo khoa học là một yếu tố rất quan trọng, có khi quyết định sự thành bại của bài báo, nhưng rất ít được các tác giả chú ý. Bài giảng này sẽ giới thiệu những nguyên tắc trong việc đặt tựa đề, cùng những điều không nên làm khi đặt tựa đề. Một số nghiên cứu khoa học về tựa đề bài báo cũng sẽ được trình bày để minh họa cho các nguyên tắc chung.


    ·       Bài 5 Cách viết phần dẫn nhập (introduction): phần Dẫn nhập của một bài báo khoa học là lí do tồn tại của bài báo, nên cần phải được quan tâm đúng mức. Bài giảng sẽ giới thiệu công thức viết dẫn nhập có tên là CaRS (creating a research space). Bài giảng cũng sẽ giới thiệu những câu văn quen thuộc để giúp các bạn viết bài báo lần đầu


    Ngày 4 (5/1/2018)


    ·       Bài 6 Cách viết phần phương pháp (methods): bài giảng sẽ giới thiệu những phần thông tin liên quan đến thiết kế nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp đo lường, phương pháp phân tích, v.v. cho một bài báo y học. Mỗi mục sẽ được minh họa bằng những câu văn quen thuộc hay những mô tả đã được công bố trên các tập san y học nổi tiếng trên thế giới.


    ·       Bài 7 Cách viết phần kết quả (results): kết quả là trái tim của một công trình nghiên cứu. Nhưng viết phần Kết quả có khi là một thách thức đáng kể cho những người mới vào nghiên cứu, vì không biết viết cái gì trước và cái gì sau, hay viết sao cho thuyết phục. Bài giảng này sẽ trình bày một số phương pháp và nguyên tắc quan trọng trong việc mô tả kết quả nghiên cứu. Phần đầu sẽ bàn về cách viết.


    ·       Bài 8 Cách trình bày biểu đồ / bảng số liệu: phần hai hướng dẫn cách thiết kế bảng số liệu và những biểu đồ có phẩm chất cao.


    Ngày 5 (6/1/2018)


    ·       Bài 9 Cách viết phần bàn luận (discussion):đây là phần khó viết nhất trong một bài báo khoa học. Các sách hướng dẫn viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh ít khi bàn đến phần này một cách cụ thể. Ngay cả những người ở cấp giáo sư vẫn viết phần bàn luận chưa đạt. Trong bài giảng này, các bạn sẽ học một công thức đơn giản (gồm 6 đoạn văn) nhưng rất hiệu quả trong việc cấu trúc phần bàn luận.


    ·       Bài 10 Cách chọn tập san: chọn tập san thích hợp để công bố kết quả nghiên cứu đang là một vấn đề thời sự, vì có quá nhiều tập san "dỏm" trên thế giới. Điều nguy hiểm hơn nữa là có những tập san nằm ở biên giới dỏm và thật. Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đã trở thành nạn nhân của những tập san dỏm. Bài giảng này sẽ giới thiệu các tiêu chuẩn để giúp các bạn phân biệt tập san dỏm và tập san thật, cùng những tiêu chí để chọn tập san chuyên ngành thích hợp cho nghiên cứu.


    Ngày 6 (7/1/2018)


    ·       Bài 11 Cách trả lời bình duyệt: sau khi bài báo được gửi đi, nếu may mắn sẽ được gửi ra ngòai bình duyệt (peer review) bởi các chuyên gia. Nhiệm vụ của tác giả là trả lời những bình luận, phê bình, câu hỏi của chuyên gia bình duyệt. Trả lời bình duyệt vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Bài giảng này sẽ hướng dẫn các bạn cách trả lời cụ thể mà các tập san y khoa ưa chuộng.


    ·       Bài 12 Cách viết thư đệ trình (cover letter): hướng dẫn cách viết cover letter sao cho thuyết phục và gây chú ý của ban biên tập.


    ·       Bài 13 Chia sẻ về cách viết cảm tạ, tài trợ, tài liệu tham khảo, và cách nộp bài báo: trong bài này một tác giả ở Việt Nam sẽ chia sẻ các nộp bài báo khoa học trực tuyến.


    7.  Đăng kí và liên lạc:


    Học viên sẽ đăng kí từ ngày ra thông báo đến hết ngày 23/12/2017. Lệ phí khóa học: 4 triệu đồng/học viên (bao gồm sách, tài liệu giảng dạy, và teabreak trong suốt 10 ngày học). Đối với học viên ghi danh lớp cơ bản/nâng cao (5 ngày), chi phí là 2 triệu đồng/học viên. Nghiên cứu sinh sẽ được giảm 50% học phí.


    Mọi thông tin vui lòng liên hệ: Phòng quản lý phát triển khoa học và công nghệ, Phòng A303, số 19, Đường Nguyễn Hữu Thọ, P. Tân Phong, Q.7, TP. HCM. Điện thoại: (028) 37755 037; Email: hatrongnghia@tdt.edu.vn


    Tải thông báo tại đây:


  • Văn hóa kinh doanh Nhật: không chỉ là cái cúi đầu!

    Posted on: 6 November 2017, 2:57 am


    Tôi có vài lần trải nghiệm với văn hóa ứng xử Nhật và không thể nào quên được sự tử tế cùng tính lịch lãm của họ. Có lần tôi sang dự hội nghị quốc tế ở Osaka, chuyến bay đáp xuống phi trường ngoài biển lúc hơn 11 giờ đêm. Tôi thích đi xe điện, nên quyết chí đi xe điện của Nhật để trải nghiệm và so sánh với xe điện bên Úc. Xe điện của Nhật thật là không chê được. Từ khâu mua vé đơn giản, giờ khởi hành chính xác đến từng giây, đến vị trí lên tàu điện chính xác ngay nơi khách đứng, làm tôi thán phục tính chính xác của người Nhật. Sau này tôi đi nhiều chuyến xe điện xuyên thành phố và cũng chứng kiến tính chính xác tuyệt vời. Lên xe thấy ghế vừa tiện nghi vừa sạch sẽ, làm cho chuyến đi về trung tâm thành phố hết sức thoải mái. Xe chạy ngang qua những tòa nhà tôi thấy đèn điện còn sáng chưng, và nhìn kĩ thì thấy vẫn có người làm việc lúc đó (tức gần nửa đêm). Sau này tôi mới biết người Nhật làm việc quá giờ hành chánh là bình thường. Họ làm xong việc chứ không hẳn là xong giờ.


    Khi xuống ga tôi phải đón xe taxi về khách sạn, và lúc này thì trải nghiệm mới hay. Tôi đến một anh tài xế taxi gần đó, và nói một tràng tiếng Anh là về khách sạn Nikko. Anh tài xế taxi tay đeo găng tay trắng, khom lưng một cái, trả lời bằng một tràng tiếng Nhật, rồi đưa tay chỉ trỏ vài con đường gần đó. Tôi chẳng hiểu gì anh ta nói gì, nhưng ngạc nhiên vì anh ta không mở cửa taxi cho tôi vào. Tôi nói lại nhu cầu đi taxi, nhưng lần này thì nói chậm hơn, và chìa ra cái tên khách sạn cho anh ta thấy. Anh ta cười nói một tràng tiếng Nhật, nhưng vẫn không chịu mở cửa xe! Tuy nhiên, nhìn thái độ thì anh ta không có vẻ gì kém thân thiện, mà muốn giúp. Lần này tôi viết ra tên khách sạn và cho anh ta xem bản đồ, anh ta chỉ vào đồng hồ xe rồi nói một tràng tiếng Nhật. Nhưng lần này anh ta mở cửa xe cho tôi vào. Hóa ra, khách sạn nằm gần chỗ ga xe điện, nên khi xe chạy thì cái đồng hồ nó tự động tính tiền km đầu tiên (tôi không nhớ giá tiền), và anh ta không muốn tôi tốn tiền vô lí vì tôi có thể đi bộ về khách sạn. Chính vì không muốn tôi tốn tiền như thế, nhưng vì bất đồng ngôn ngữ nên anh không còn cách nào khác là cho tôi … chi tiền. Đó là một sự tử tế vậy.


    Lần thứ hai là câu chuyện xử lí truyền thông về "sự cố" sữa hết hạn. Lúc đó tôi đi công tác ở Nagoya. Đi đường đâu cũng thấy có người đứng ở ga xe điện, trạm xe bus, và một số ngã tư đừng khom lưng như hối lỗi. Có người phát cái tờ rơi giải thích sự việc, tiếng Nhật và tiếng Anh, thì tôi mới biết câu chuyện. Hóa ra, một công ti địa phương bán sữa nhưng chẳng may có một số sữa hết hạn sử dụng và có vài người bị tiêu chảy. Thế là công ti phát động một "chiến dịch xin lỗi". Nhưng cách xin lỗi của họ là biến thành một chiến dịch củng cố thương hiệu. Họ mướn người đứng ở những nơi có nhiều người qua lại để xin lỗi. Chẳng những thế, họ mướn giờ tivi, mướn giờ đài truyền thanh, và dùng phone để nói lời xin lỗi khách hàng dù khách hàng chẳng gặp "sự cố" sức khỏe. Quả là một chiến dịch hết sức ấn tượng!


    Dĩ nhiên, cái "lớn" của người Nhật không chỉ qua hai trải nghiệm trên. Trong những biến cố lớn như thiên tai vừa qua, chúng ta càng chứng kiến người Nhật quả thật hơn hẳn các sắc tộc khác, kể cả các sắc tộc có thời tự hào là thượng đẳng thế giới. Hình ảnh một em bé bình thản đứng xếp hàng để nhận hàng cứu trợ làm cả thế giới thán phục tinh thần kỉ luật của người Nhật. Càng thán phục hơn ở năng lực phục hồi các cơ sở vật chất sau trận động đất lịch sử. Những xa lộ bị nứt và đứt lìa được khôi phục nhanh chóng sau đó, những tòa nhà tan hoang được xây dựng lại, hàng đống rác xe và máy bay được dọn dẹp chỉnh chu rất nhanh sau thiên tai. Người Nhật đã chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh và khả năng hoàn thành những điều tưởng như không thể.


    Trong kinh doanh tôi thấy hình như người Nhật có một "văn hóa" riêng. Những ai từng đi ăn uống ở nhà hàng Nhật cũng đều nhận thấy bên cạnh văn hóa ẩm thực độc đáo là một văn hóa kinh doanh thuộc vào hàng độc nhất vô nhị. Khách mới vào nhà hàng là một dàn nhân viên và tiếp viên đã khom lưng chào "iratsaimase" (chào mừng quí khách). Khi bước ra khỏi nhà hàng là lại được chào "arigatogo-zaimashita" (cảm ơn quí khách). Thoạt đầu tôi tưởng rằng chỉ có ở Nhật người ta mới có cách tiếp và tiễn khách như thế, nhưng hóa ra ngay tại bất cứ nhà hàng nào ở Việt Nam hay bất cứ nơi nào trên thế giới, người Nhật đều có văn hóa như thế.


    Tôi cũng có vài kinh nghiệm đẹp trong tư cách khách hàng của các khách sạn Nhật. Khi đi công tác ở Á châu, tôi hay chọn khách sạn Nhật, một phần vì là hội viên, một phần là thích sự tinh tế của họ. Nói về sự tinh tế của người Nhật là cả một câu chuyện dài. Từ cách thiết kế phòng, đến từng chi tiết nhỏ về ổ điện bên cạnh giường ngủ, đóa hoa trên gối, ánh đèn điện sáng ấm, cái bàn làm việc, cái 'safe' dễ sử dụng, đến cái khăn tắm và khăn mặt, tất cả đều làm cho người khách cảm thấy như được chào đón và chăm sóc chu đáo. Trong khách sạn, hình như tất cả các nhân viên và người phục vụ đều được huấn luyện rằng họ phải xem khách như là khách của nhà chính họ, cho nên hễ gặp bất cứ nhân viên nào dù họ đang làm việc gì đó, họ vẫn nở nụ cười và gật đầu chào. Những cử chỉ và hành vi này làm cho khách thấy mình thuộc về "gia đình" hơn là đang ở khách sạn.



    Mỗi khi khách có nhu cầu dùng bàn ủi, chỉ cần 1 phút là có ngay. Điều này rất khác với khách sạn Việt Nam, có nơi không có, hay có nhưng phải tính tiền! Còn thức ăn thì khó có thể chê được: dù nguyên liệu là của Việt Nam, nhưng qua sự trình bày và chế biến dưới sự hướng dẫn của họ thì trở thành tuyệt phẩm. Chỉ món thịt ba rọi muối đơn giản thôi mà họ cũng biến thành một món ngon lạ, mà tôi chưa thấy khách sạn Âu Mĩ nào làm ngon như khách sạn Nhật. Sau mỗi lần lưu trú là một email hỏi han về kinh nghiệm trong thời gian lưu trú ra sao. Họ hỏi chi tiết từ khâu tiếp tân, tiện nghi và sự sạch sẽ của phòng ngủ, thức ăn, cung cách phục vụ, khâu tiễn khách, v.v. Rõ ràng họ không chỉ chăm sóc khách hàng lúc dùng dịch vụ của họ, mà còn quan tâm đến khách hàng sau khi đã dùng dịch vụ. Hỏi làm sao khách hàng không lưu luyến được.


    Trong các lĩnh vực khác thì tôi không rõ, nhưng về dịch vụ tôi nghĩ doanh nghiệp Việt Nam cần học người Nhật rất nhiều. Bởi vậy, tôi nghĩ khi người Nhật kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam thì đó là một tin mừng. Người dân đã bị chi phối bởi những kiểu kinh doanh thiếu lành mạnh, và họ thấy sự xuất hiện của người Nhật như là một lựa chọn lành mạnh. Tôi nghĩ đa số chúng ta không đòi hỏi một cái cúi đầu hay khom lưng (vốn chỉ là một cách chào của người Nhật) trong kinh doanh, nhưng chúng ta mong muốn các doanh nghiệp Việt Nam học sự sự tử tế trong kinh doanh và thái độ tôn trọng khách hàng của người Nhật.


    Bài đã đăng trên Đất Việt:
    http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/van-hoa-kinh-doanh-nhat-khong-chi-la-cai-cui-dau-3345201/

  • xahoihoctap.NET
    Author: Social Learning Network
    About: Teaching resource - the 1st Vietnamse Portal in Metallurgy and Materials Technology. Cổng thông tin về lĩnh vực luyện kim và kỹ thuật vật liệu. Lĩnh vực chủ chốt: gang trắng Cr cao, thiêu kết xung điện plasma, xử lý nhiệt, tự động hóa trong luyện kim, luyện kim phi coke, động học hoàn nguyên Oxit sắt.

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: