Bài vở của GS Nguyễn Văn Tuấn, Úc Châu

Category: General Published: 16 April 2017
Hits: 53

Nguyễn Văn Tuấn là một nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Ông hiện là nghiên cứu viên chính tại viện Garvan, Úc.

Ông sinh ra và lớn lên tại Kiên Giang. Vượt biên rời Việt Nam bằng thuyền năm 1981, năm 1982 ông sang định cư tại Úc.

Khi sang Úc định cư, ông bắt đầu bắc các công việc phụ bếp, rồi làm phụ tá trong phòng thí nghiệm sinh học tại Bệnh viện St. Vincent’s.

Từ năm 1987-1997: Ông lần lượt tốt nghiệp Thạc sĩ thống kê Đại học Macquarie (Úc), Tiến sĩ y khoa Đại học New South Wales (Úc), Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ (postdoc) tại đại học Wright State, Mỹ và Đại học Basle, Trung tâm nghiên cứu lâm sàng Sandoz (Thụy Sĩ) và Bệnh viện St Thomas (Anh).

Năm 2009, ông được bổ nhiệm chức danh Giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học New South Wales (Úc) trong khi công việc chính vẫn là nghiên cứu viên chính của viện Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Úc. Từ năm 2008 - 2013 ông được làm Nghiên cứu viên cao cấp Hội đồng quốc gia về nghiên cứu y khoa và y tế Úc (NHMRC).[1]

Trên trường quốc tế ông đã có gần 150 công trình nghiên cứu khoa học mà 70% là về di truyền học, 30% là dịch tễ học.

Ngoài lĩnh vực Y khoa tạo nên tên tuổi, ông cũng dành thời gian viết về nghiên cứu văn học và báo chí, với những bài viết sắc sảo trên những tờ báo lớn ở Việt Nam.

Bài viết đầy đủ khác của GS Nguyễn Văn Tuấn tại trang chủ tuanvannguyen.blogspot.com.

tuan's blog

  • Mì ngon 70 năm ở Sài Gòn

    Posted on: 18 April 2017, 3:55 am



    Một điều thú vị là dù món mì ở Việt Nam do người Hoa nấu, nhưng nó không giống như ở Tàu; món mì ở Việt Nam ngon hơn nhiều. Tôi đoán có lẽ món mì khi du nhập vào Việt Nam -- dù là người Việt hay người Hoa nấu -- nó đã được "tiến hóa" theo văn hóa ẩm thực địa phương, vốn hòa quyện giữa Á châu và Pháp. Nhìn tô mì Việt Nam, nước trong veo, vừa đủ ngọt, cộng thêm một chút hành ngò, một con tôm chiên bột, và vài lát thịt gà, là thấy đẹp ngay. Đẹp từ màu sắc đến vị của soup và cái giòn của con tôm chiên. Trên thế giới này (tôi có cơ duyên đi nhiều nơi), không có chỗ nào nấu một tô mì hoàn hảo như ở Việt Nam.


    Món mì chắc không phải xuất phát từ Việt Nam, rất có thể là xuất phát từ Tàu hay Ý. Hai nước này còn trong vòng tranh luận về nguồn gốc của mì. Nhưng như nói trên món mì bên Tàu hay cách nấu/chế biến theo kiểu ở bên Tàu không ngon như ở Việt Nam. Nhìn cái màu của soup mì bên Thượng Hải là ... chán. Nước soup gì màu đen như thuốc bắc, lúc thì mặn chát, lúc thì lạc nhách, chả ra thể thống gì cả. Ngay cả khi món mì được du nhập sang các nước Á châu khác như Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, hay xa hơn như Đại Hàn và Nhật, cách nấu cũng không đậm đà như cách nấu ở Việt Nam. Cọng mì ở Việt Nam nhỏ hơn, dai hơn, giòn hơn so với cọng mì thô kệch của Nhật và Hàn. Đặc biệt là món soup để ăn mì thì mấy nước kia thua Việt Nam cả ngàn năm ánh sáng. Việt Nam đã đạt được trình độ chế biến món soup mà trên thế giới này khó có văn hóa ẩm thực nào bì kịp.


    Ngày xưa, ở Sydney có tiệm mì Á Đông lừng danh một thời. Ông chủ là người Việt gốc Hoa, hình như quê ở Trà Vinh, sang đây tị nạn năm 1980. Ông mở quán mì lấy tên là "Á Đông" ở Cabramatta. Điểm đặc biệt của quán mì này là ông làm mì tại chỗ. Khi khách kêu tô mì, ông vào trong làm, và sau đó cho soup vào cùng món tôm chiên bột kèm theo. Món soup của ông thì cho đến nay chưa có tiệm mì nào qua được. Còn cọng mì của ông thì vừa nhỏ, vừa giòn, ăn hoài không chán. Thành ra, quán lúc nào cũng đông khách, người ta xếp hàng chờ mệt nghỉ. Còn ông làm mì thì ... chậm, nên dù khi đã có bàn, thì phải chờ đến 15 phút mới có tô mì. Ông nói là chỉ làm mì vì yêu nghề thôi và muốn khách phải thưởng thức ngón nghề độc đáo của ông. Rất tiếc là sau khi ông qua đời thì con cháu ông không nối nghiệp và quán đóng cửa. Cho đến nay, mỗi lần đi ngang qua quán này tôi vẫn nhớ ông chủ quán hiền lành và yêu nghề mì. Không biết chừng nào mới có một quán mì Á Đông trong tuơng lai.


    -----


    Mì ngon 70 năm ở Sài Gòn


    Tôi đã được nghe rất nhiều giai thoại về xe mì Thiệu Ký trong con hẻm 66 Lê Đại Hành này. Nào là danh tiếng của chủ quán, ông Tư Ky, lừng lẫy đến mức con hẻm 66 này được người dân xung quanh gọi là “hẻm Tư Ky”. Rồi bề dày lịch sử 70 năm của quán, trải qua bao nhiêu ngày tháng, biến cố lịch sử vẫn giữ nguyên một hương vị. Về cọng mì bí truyền, ăn cho đến gần hết tô vẫn dai mà không bị nở…


    Những người kế nghiệp quán mì Thiệu Ký ngày nay gọi ông Tư Ky là ông ngoại. Những năm 30 của thế kỷ trước, ông Tư Ky đã chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai của mình với nghiệp mưu sinh là gánh mì nhỏ bán quanh khúc giao lộ Thuận Kiều, Trần Quý, Hòa Hảo (quận 11 ngày nay). Rồi gánh mì chuyển lên thành xe mì đẩy đi bán xung quanh khu vực có đông người Hoa sinh sống. Đến sau năm 1975 thì xe Thiệu Ký mới chính thức yên vị trong con hẻm nhỏ 66 Lê Đại Hành này.


    Hành trình sản sinh cọng mì và hủ tiếu của người Hoa là một chủ đề khá khá vị. Nếu như cọng hủ tiếu dai trong hủ tiếu Nam Vang là một biến thể thú vị từ những người Mẫn Nam (Phúc Kiến) trong giai đoạn di cư về phía những nước Đông Nam Á, với bột gạo là nguyên liệu chính. Do không có nguyên liệu làm mì, họ đã dùng nguyên liệu tại chỗ là gạo để chế sợi thay cho mì (từ đầu thế kỷ trước 3 nước Đông Dương đã là một vựa gạo khổng lồ với sản lượng xuất khẩu lên đến 1.5 triệu tấn hàng năm).


    Tuy cọng hủ tiếu được sản sinh ở những nước Đông Dương xưa (có thể từ thế kỷ 17 đến 18), thì sợi mì vẫn tồn tại song song trong cộng đồng Hoa kiều. Và tất nhiên mỗi quán mì đều có bí quyết chế biến sợi mì, xem như bản sắc của mình. Với quán Thiệu Ký cũng vậy. Đã 70 năm qua, các thành viên trong gia đình ông Tư Ky vẫn giữ nguyên thói quen làm sợi mì riêng cho quán mình. Một quy trình khép kín từ 2h chiều kéo dài đến 5-6h tối. Sợi mì được làm theo một bí quyết chuyên biệt : bột mì trộn cùng trứng vịt và nước tro tàu, ủ một thời gian rồi mới mang đi cán và cắt sợi.


    Cũng nhờ vậy mà món chủ lực ở Thiệu Ký – mì khô dầu hào – ngon một cách khó tả. Sợi mì dai, giòn một cách tự nhiên, và đặc biệt không giờ bị nở cho dù bạn ăn thật chậm. Vị mì ngon hòa với một chút dầu hào và tốp mỡ, nêm thêm một chút giấm đỏ (vị chua mà người Việt thường chọn chanh để thay thế), gắp chung một đũa với miếng xá xíu mới là trọn vẹn một tô mì “chính hiệu” Tư Ky.


    Bên cạnh món mì bí quyền qua bao nhiêu năm tháng, ở Thiệu Ký còn nhiều món ngon khác như hủ tiếu thập cẩm, bò kho, hoành thánh và sủi cảo. Sủi cảo ở đây khá chất lượng, to và đầy đặn nhân tôm chứ không nhỏ để đáp ứng về mặt số lượng như các quán khác. Hủ tiếu thập cẩm ăn với lòng, sườn heo cũng là món nên thử.


    Thời khắc đẹp nhất đế ăn ở Thiệu Ký có lẽ nằm trong khoảng từ 9 đến 10 giờ. Khi đó trời Sài Gòn vừa dịu nắng sáng, con hẻm nhỏ 66 Lê Đại Hành cũng đã vãn bớt thực khách… Để tôi được cảm nhận trọn vẹn hương vị của thời gian, của những đam mê được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Như là một đặc ân dành cho người Sài Gòn vậy.


  • Ý tưởng nghiên cứu đến từ đâu?

    Posted on: 18 April 2017, 3:50 am


     

    • Quan sát thực tế; 
    • Đọc y văn, tham dự hội nghị; 
    • Chú ý đến kĩ thuật mới, ý tưởng ngành khác; và 
    • Một chút tưởng tượng.


    Quan sát thực tế


    Có thể nói rằng từ thực tế hàng ngày, thực tế lâm sàng bất bình thường, chúng ta có thể hình thành những câu hỏi nghiên cứu rất hay. Bất bình thường ở đây có thể là những giá trị ngoại vi của một xét nghiệm, hay những hiện tượng bất thường. Một trong những câu chuyện "favorite" tôi hay lấy làm minh họa cho ý này là câu chuyện khám phá gen LRP5 trong chuyên ngành loãng xương. Câu chuyện bắt đầu bằng một tai nạn giao thông ở Los Angeles, mà trong đó một người bị thương rất nặng, gãy nhiều xương, nhưng người kia thì chẳng hề hấn gì, không có xương nào bị gãy. Khi vào bệnh viện khám, bác sĩ rất ngạc nhiên về người "lành lặn" kia và nghi ngờ rằng có thể bị nội thương, nên ông cho đi chụp X-ray và nhiều xét nghiệm khác, kể MRI. Ông phát hiện từ phim X quang là người thanh niên này có xương rất dày! Để chắc ăn, ông cho người thanh niên đi đo mật độ xương bằng máy DXA. Kết quả DXA cho thấy người này chỉ mật độ xương cao gấp 4 độ lệch chuẩn so với người cùng độ tuổi! Một chi tiết thú vị khác là anh ta không thể bơi lội, vì cứ xuống hồ bơi là ... chìm. Xương nặng quá.


    Ông bác sĩ "ngửi" được mùi khám phá, nên lần dò hỏi thêm về gia thế và các thành viên trong gia đình. Khi ông được phép của Hội đồng y đức của trường đại học, ông đo mật độ xương của tất cả thành viên trong đại gia đình. Có người đang làm việc ở tận Thổ Nhĩ Kì, ông bác sĩ cũng bay sang "bắt" cho được. Dĩ nhiên, ông lấy mẫu máu và tách DNA. Sau đó, ông hợp tác với một chuyên gia về di truyền học và làm một phân tích gọi là genomewide linkage analysis, tức là scan toàn bộ hệ gen (nói cho oai, nhưng thời đó chỉ khoảng 1000 markers mà thôi). Phân tích dữ liệu cho thấy một tín hiệu nằm ở nhiễm sắc thể 11. Phân tích thêm ở vị trí đó, ông phát hiện gen LRP5. Đột biến thêm chức năng (gian of function mutation) ở gen LRP5 làm cho xương dày lên. Thế là ông bác sĩ đã khám phá ra một gen quan trọng giải thích tại sao mật độ xương của người thanh niên này rất đặc.


    Trong cùng một lúc, một nhóm nghiên cứu độc lập khác, hoàn toàn không liên quan gì với nhóm của ông bác sĩ trên, nghiên cứu về hội chứng osteoporosis-pseudoglioma. Hội chứng osteoporosis-pseudoglioma tương đối hiếm trong cộng đồng, mà đặc điểm chính là xương mỏng, mật độ xương rất thấp, rối loạn thị giác và thường dẫn đến mù lòa. Nhóm nghiên cứu này cũng phát hiện gen LRP5, nhưng là đối nghịch. Tức là trẻ em mắc hội chứng osteoporosis-pseudoglioma có đột biến mất chức năng ở gen LRP5.


    Vậy là kết quả nghiên cứu của hai nhóm bổ sung cho nhau một cách tuyệt vời. Từ câu chuyện trên, thế giới loãng xuơng có thêm một gen trong "gia đình". Từ khám phá gen này, người ta khám phá ra con đường đi của gen có tên là Wnt. Hóa ra, Wnt "chịu trách nhiệm" cho sự hình thành của xương và cánh ở động vật. Do đó, các công ti dược bào chế thuốc để điều chế hệ thống Wnt và dùng cho điều trị loãng xương. Đó là một thành công rất ngoạn mục, một khám phá rất quan trọng xuất phát từ chỉ một ca tai nạn giao thông. Trong nhiều trường hợp khác, những khám phá tương tự cũng đã được đề cập trong y văn. Trong khoa học có câu "chúng ta khám phá điều bình thường từ sự việc bất bình thường", và khám phá LRP5 là một ca tiêu biểu.


    Đọc y văn, tham dự hội nghị


    Một nguồn ý tưởng về nghiên cứu quan trọng khác là qua tham khảo (đọc) y văn. Ngày nay, y văn là một kho tàng kiến thức khổng lồ. Mỗi năm có hơn 1 triệu bài báo khoa học được công bố, và con số này vẫn tăng hàng năm. Do đó, một người bình thuờng không thể nào đọc hay theo dõi được tất cả thông tin y khoa. Chúng ta cần phải chọn lọc thông tin khả tín để đọc. Để có thông tin khả tín và liên quan, chúng ta cần phải biết mình theo đuổi chuyên ngành gì (và từ khóa tiếng Anh là gì), chuyên ngành rộng và chuyên ngành hẹp. Một người có thể làm trong lĩnh vực nội tiết, nhưng chỉ quan tâm đến tiểu đường, lại có người quan tâm đến loãng xương. Mỗi chuyên ngành có những tập san riêng, tuy độc lập với nhau, nhưng cũng có những bài báo liên quan đến cả hai chuyên ngành.


    Xác định chuyên ngành để chọn tập san mà đọc. Mỗi chuyên ngành chỉ có vài tập san, cao lắm là 10. Phần còn lại là những tập san làng nhàng, đa phần là không đáng quan tâm. Chọn những tập san có impact factor cao để theo dõi. (Tuy impact factor bị chỉ trích nhiều, nhưng nó vẫn là thước đo tốt nhất để sàng lọc thông tin cho người mới vào nghề). Đó là những tập san trong danh mục ISI. Danh mục Scopus cũng được, nhưng trong đó có khá nhiều tập san làng nhàng, nên không cần tốn thì giờ. Có thể tham khảo trang scimagojr.com để biết tập san nào có uy tín tốt và tập san nào không có uy tín tốt.

    Sau impact factor là tác giả cũng là tiêu chuẩn sàng lọc rất tốt. Trong mỗi chuyên ngành, chỉ có vài mươi nhóm nghiên cứu uy tín rải rác trên thế giới. Khi thấy một bài báo, việc đầu tiên là xem tên tác giả đầu và tác giả cuối. Tác giả nổi tiếng thường chỉ công bố bài báo ở những tập san nổi tiếng, và họ thường được mời viết "review". Đó là tín hiệu của tác gỉa có uy tín. Địa chỉ làm việc của tác giả cũng rất quan trọng. Thuờng các nhóm nghiên cứu nổi tiếng nằm trong các trường đại học loại "Top 200" trên thế giới, còn mấy trường làng nhàng, trường địa phương, hay truờng mới lập, v.v. thì rất ít có lab nghiên cứu đẳng cấp quốc tế.


    Hội nghị cũng là địa điểm rất tốt để hình thành ý tưởng nghiên cứu. Trong các hội nghị cấp quốc tế (thường là ở Mĩ và Âu châu) của các hiệp hội chuyên khoa, người ta hay mời các chuyên gia nổi tiếng đến chia sẻ nghiên cứu. Mỗi bài giảng của họ là một bài review sống động, và cuối bài giảng thường có những vấn đề mà họ chưa giải quyết được. Người nghe chú ý đến những vấn đề đó để có thể có những ý tưởng tiền phong. Chẳng hạn như có lần tôi đi dự hội nghị và nghe người ta bàn về TBS (trabecular bone score) rất nhiều, nhưng một trong những vấn đề người ta đặt ra là TBS có chịu sự ảnh hưởng của di truyền. Thế là tôi về và xúi đồng nghiệp Việt Nam làm một nghiên cứu về vấn đề này, và kết quả là năm sau chúng tôi có một công trình đầu tiên trên thế giới về yếu tố di truyền trong TBS!


    Chú ý đến kĩ thuật mới, ý tưởng ngành khác


    Ý tưởng mới thường có tính cách liên ngành. Nếu mình chỉ vùi đầu vào chuyên ngành của mình thì có hai hệ quả xảy ra. Hệ quả thứ nhất là chúng ta sẽ bị bảo thủ, không chịu mở rộng tầm nhìn và tấm lòng đến bên ngoài. Hệ quả thứ hai là chúng ta sẽ cạn kiệt ý tưởng rất nhanh. Do đó, lúc nào cũng phải mở tầm nhìn sang các chuyên ngành khác, chú ý xem họ phát triển đến mức nào, họ có cái gì mới mà chúng ta có thể áp dụng cho chuyên ngành của mình.


    Một trong những ca tiêu biểu là di truyền học. Nếu chúng ta nghiên cứu về bệnh Parkinson chẳng hạn và nếu chúng ta chỉ quanh đi quẩn lại làm những gì "kinh điển" thì chuyên ngành sẽ chẳng đi đến đâu. Nhưng nếu chúng ta biết rằng (và trong thực tế thì như thế) bệnh Parkinson là do một phần yếu tố di truyền gây nên, thì bắt buộc chúng ta phải để mắt đến công nghệ di truyền học họ phát triển đến đâu. Ngày xưa, có lẽ chúng ta chỉ phân tích 1 vị trí gen một lần, nhưng với công nghệ mới, chúng ta có thể phân tích khoảng nửa triệu vị trí một lần! Mười năm trước, để giải mã toàn bộ hệ gen, chúng ta tốn 15 ngàn USD, nhưng ngày nay thì chỉ 1500 USD. Với chi phí rẻ như thế, chúng ta có thể phân tích hàng trăm bệnh nhân, và sẽ có những khám phá thú vị.


    Ý tưởng từ chuyên ngành khác dĩ nhiên không giới hạn trong công nghệ di truyền học, mà còn trong bất cứ chuyên ngành khác. Có thể kể đến các hay chuyên ngành hay công nghệ như vật lí y khoa, sinh hóa, tâm lí học, xã hội học, kĩ thuật, "công nghệ thống kê" (bao gồm các phương pháp phân tích advanced, machine learning, bioinformatics, v.v.), tất cả đều giúp chúng ta suy nghĩ về chuyên ngành mình. Điều này đòi hỏi chúng ta phải đọc nhiều. Ngoài các tập san y khoa, cần phải đọc những tạp chí có phẩm chất tốt như American Scientist, Scientific American, Nature.com, hay các trạm thông tin như Science News, asianscientist.com, medscape.com, v.v. Đây là những trạm thông tin đa ngành, nên những phát hiện và phát triển quan trọng đều được đề cập đến. Qua những bài báo đề cập chúng ta có thể tìm bài báo gốc trên các tập san khoa học để tìm hiểu thêm chi tiết.


    Một chút tưởng tượng


    Thỉnh thoảng, ý tưởng đến với chúng ta rất tình cờ, qua tưởng tượng. Một câu của Albert Einstein mà tôi hay trích dẫn là "If you have logic, you can go from A to B; if you have imagination, you can go anywhere" (Nếu bạn có logic, bạn có thể đi từ A đến B; nếu bạn có trí tưởng tượng, bạn có thể đi bất cứ nơi nào.) Tôi nghĩ câu này đúng với nhiều khám phá tình cờ. Đọc những cuốn sách về tiểu sử của các nhà khoa học lừng danh, họ có xu hướng phát kiến ý tưởng từ những sự tưởng tượng có thể nói là ... fantasy. Một nguồn "tưởng tượng có hệ thống" theo tôi là các tiểu thuyết và phim ảnh giả tưởng, vì những tác phẩm loại này giúp chúng ta bay bổng hơn. Và, bay bổng có khi là yếu tố rất cần thiết cho khoa học.


    Trên đây là 4 nguồn ý tưởng mà tôi hay bàn đến trong các workshop về nghiên cứu khoa học. Trong thực tế, mỗi labo có một hướng nghiên cứu riêng, và các trưởng labo đã có sẵn một chuơng trình nghiên cứu để đạt mục tiêu. Các chương trình nghiên cứu đó có khi bị "bẻ lái" vì những nguồn ý tưởng trên đây. Các nguồn ý tuởng trên đây đòi hỏi nhà khoa học phải có đầu óc quan sát tinh tế, phải chú ý đến chi tiết hoặc những điều gì có vẻ bất thường, phải đọc nhiều và đặt vấn đề trong bối cảnh chung, và phải có chút nghệ sĩ tính. Những cá tính đó, tôi nghĩ, cũng là nhân cách của một nhà khoa học thành công.


  • ISI và Scopus bị tẩy chay?

    Posted on: 15 April 2017, 4:14 pm

    Những tranh luận xoay quanh tiêu chuẩn công nhận giáo sư lại quay về tình hình nghiên cứu khoa học xã hội, và xuất hiện vài ngộ nhận. Một giáo sư văn học nói rằng những yêu cầu về công bố quốc tế cho giáo sư là không hợp lí, vì hai danh mục ISI và Scopus bị tẩy chay (1). Bác nói như thế thì khổ cho chúng tôi quá. Có ba điểm cần phải trao đổi thêm để chúng ta hiểu cho rõ. Ba điểm này liên quan đến tính chính danh của các tập đoàn xuất bản và chủ đề công bố quốc tế.




    Thứ nhất, các tập đoàn xuất bản khoa học ở các nước phương Tây đều là tư nhân hay cổ phần. Từ Elsevier, Springer, Wiley, đến McGraw-Hill, tất cả đều là tư nhân, chứ không có dính dáng gì đến Nhà nước cả. Cái "status" tư nhân đó không hề làm giảm uy tín của các tập đoàn. Cho dù họ có bị chỉ trích nhiều, nhưng những đóng góp của họ cho khoa học thì không thể nào bác bỏ được. Riêng Elsevier thì bị một số nhà khoa học tẩy chay bằng cách không ngồi trong ban biên tập của các tập san, vì Elsevier tiếp tục tăng giá niên liễm (subscription) làm cho nhiều thư viện đại học khốn khổ. Nhưng dù tẩy chay như thế, đại đa số các nhà khoa học vẫn làm không lương cho Elsevier, và cuộc tẩy chay chẳng gây ảnh hưởng gì cả. Ngay cả những người kí tên tẩy chay vẫn công bố nghiên cứu trên các tập san Elsevier! Tẩy chay ở đây là vì mô hình kinh tế, chứ không phải vì học thuật.  


    Thứ hai, bác nói "đây là hai tổ chức công bố khoa học phi chính phủ, bị nhiều tạp chí quốc tế không thừa nhận giá trị, thậm chí bị yêu cầu cho ra khỏi các thống kê khoa học nghiêm túc" thì tôi e rằng không đúng. Trong thực tế, các cơ quan chính phủ đều dùng cơ sở dữ liệu của ISI và Elsevier để làm thống kê đánh giá tình hình khoa học của một quốc gia. Rất rất nhiều người (2-3), kể cả chúng tôi (4-6) cũng dùng các cơ sở dữ liệu này để đánh giá khoa học. Có thể họ chưa bao quát đầy đủ tập san, nhưng cơ sở dữ liệu của họ hiện nay được xem là tương đối hoàn chỉnh.


    Chính vì thế mà hàng năm các chính phủ và các đại học khắp thế giới phải trả nhiều tiền (bạc triệu USD) để truy cập cơ sở dữ liệu của họ. Chẳng hạn như ở Úc, để đánh giá đầu tư cho nghiên cứu y sinh học ra sao, chính phủ ủy nhiệm cho một nhóm nghiên cứu làm, và nhóm này dùng cơ sở dữ liệu của ISI (2). Để đánh giá hoạt động khoa học giữa các quốc gia, người ta cũng dùng dữ liệu của ISI (3-4).


    Thứ ba, bác nói rằng những tập san trong ISI và Scopus không quan tâm đến nghiên cứu sử học và văn học từ Việt Nam thì cũng không đúng. Ngược lại, họ rất quan tâm và sẵn sàng công bố nghiên cứu từ Việt Nam. Tôi mới tính thử thì thấy trong thời gian 2001 đến 2015, Việt Nam đã công bố được 717 bài báo khoa học xã hội và nhân văn trên các tập san trong danh mục ISI (xem bảng số liệu, nguồn tham khảo #5). Rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu, từ lịch sử, văn học, ngôn ngữ học, truyền thông học, nhân chủng học, gia đình học, đến xã hội học, Việt Nam đã có công bố quốc tế (tuy còn quá ít). Nhưng điều hơi buồn (?) là đa phần những bài này do hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài và các tác giả nước ngoài đứng tên.



    Cũng sẵn đây nói thêm về một ngộ nhận cho rằng chi phí bình duyệt cho mỗi chuyên gia bình duyệt là 2000 USD (6). Điều này hoàn toàn sai. Các tập san khoa học không trả tiền cho chuyên gia bình duyệt một cent nào cả; tất cả chuyên gia đều làm việc hoàn toàn vì khoa học và thiện nguyện. Điều này thì có thể hỏi các chuyên gia ở Việt Nam, họ có thể nói rõ. Trong thời gian làm editor tôi chưa bao giờ trả tiền cho chuyên gia bình duyệt, và đó là một điều chắc chắn. Tuy nhiên, vài tập san có thể lấy ấn phí (gọi là article processing charge hay APC), thường là 300-600 USD một bài. Có tập đoàn xuất bản, như Springer chẳng hạn, thì không lấy ấn phí. Các tập san Mở (Open Access journals) thì có thể lấy ấn phí cao hơn (khoảng 1500-2000 USD một bài); nhưng Việt Nam được xếp vào nhóm các nước "nghèo", nên các tập san Mở cũng không lấy ấn phí từ các tác giả ở Việt Nam.


    Nói tóm lại, vài ý kiến của bác giáo sư (1) có vẻ là ngộ nhận. Một phần vì bác ấy chưa rõ sự vận hành và cơ cấu dữ liệu của hai nhóm ISI và Scopus, cũng như các tập san trong hai danh mục đó, nên bác ấy nói quá mạnh và không đúng. Các tập san lừng danh như Science, Nature, Cell đều chẳng do Nhà nước quản lí, nhưng điều đó không hề làm giảm uy tín của họ. Các tập san khoa học quốc tế công bố nghiên cứu từ bất cứ nước nào và bất cứ chủ đề gì, miễn là nghiên cứu phải cho ra nghiên cứu, có nghĩa là làm đúng phương pháp khoa học (scientific method) và tuân thủ theo các qui ước về đạo đức khoa học. Việt Nam đã và đang công bố các công trình nghiên cứu khoa học xã hội trên các tập san ISI và Scopus.


    ----


    Tiêu chuẩn GS,PGS: Tôi cực lực phản đối "quốc tế hóa" kiểu “thầy bói xem voi”

    King DA. The scientific impact of nations

    Nguyen TV, Pham LT. Scientific output and its relationship to knowledge economy: an analysis of ASEAN countries

    Nguyen TV, et al. International collaboration in scientific research in Vietnam: an analysis of patterns and impact
    Ho Dung Manh. Scientific publications in Vietnam as seen from Scopus during 1996–2013


    (6) http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/giao-duc/giao-su-rom-xet-duyet-giao-su-that-loi-nguoi-trong-cuoc-3332918/

    Giáo sư 'rởm' xét duyệt giáo sư thật: Lời người trong cuộc


  • Phỏng vấn Thượng tọa Thích Trí Quang

    Posted on: 13 April 2017, 7:51 pm

      
    KINH NGHIỆM LÀM BÁO SINH VIÊN NỬA THẾ KỶ TRƯỚC 1964 - 1967


    NGÔ THẾ VINH




    Đã 42 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi. (1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng hoặc còn suy tôn ông Diệm thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng. Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh viên Tình Thương, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một cơn gió lốc cách mạng thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng sản."


          Vậy thì đâu là sự thật? Đâu là con người thật của Thích Trí Quang? Như câu hỏi trong phim Rashomon, một kiệt tác điện ảnh của Nhật Bản. Người viết sẽ không đưa ra một kết luận nào về chân dung Thích Trí Quang, nhưng muốn trở lại bối cảnh chính trị xã hội của thập niên 1960s, khi mà tên tuổi Trí Quang hầu như gắn liền với những biến động thời bấy giờ. Trong khi thông tin về các phong trào Phật giáo tranh đấu ngoài miền Trung rất nhiễu loạn, thì tại Sài Gòn, ngoài một cuộc phỏng vấn hiếm hoi dành cho tuần báo TIME 04.22.1966 với hai ký giả McCulloch và James Wilde; Thích Trí Quang sau đó trở ra Huế và rất ít khi dành cho báo giới Tây phương những cuộc tiếp xúc nào khác. Riêng với TÌNH THƯƠNG tuy chỉ là tờ báo của sinh viên Y khoa nhưng lại rất quan tâm theo dõi thời cuộc, được sự chỉ định của Toà báo, hai phóng viên Phạm Đình Vy (5) và Ngô Thế Vinh đã bay ra Huế, được gặp và thực hiện cuộc phỏng vấn Chín mươi sáu phút với Thượng Toạ Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5-5-1966 tại Chùa Từ Đàm Huế. Và bài phỏng vấn này đã được đăng ngay trên báo Tình Thương số 29, 1966, và đã được phóng viên của US News & World Report xin dịch sang tiếng Anh nhưng rồi không rõ lý do, bài báo đã không được phổ biến sau đó.  


          Thích Trí Quang nay cũng đã 94 tuổi, ông sinh năm 1923; từ sau 1975 ông sống lặng lẽ những năm tháng cuối đời trong ngôi chùa Già Lam ở Gò Vấp. Và nay qua bộ báo Tình Thương mà Thư quán Bản Thảo của nhà văn Trần Hoài Thư (4) mới phục hồi lại được, trong đó có số báo TT 29, với 4 trang 2-3-4-5 đăng trọn vẹn cuộc phỏng vấn đã thực hiện từ hơn nửa thế kỷ trước. Chúng tôi cho phổ biến bài báo này, không ngoài mục đích chỉ muốn cung cấp thêm một sử liệu hiếm quý về một Thích Trí Quang khác tưởng như đã thất lạc tới các bạn trẻ và các sử gia tương lai. Ngô Thế Vinh   



    CHÍN MƯƠI SÁU PHÚT VỚI THƯỢNG TOẠ

    THÍCH TRÍ QUANG [05.05.1966]


    NGÔ THẾ VINH & PHẠM ĐÌNH VY


    ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY


          Với những rối loạn chính trị trong tuần lễ vừa qua, có một hiện tượng TRÍ QUANG trên khắp các báo chương ngoại quốc. Tuần báo Time coi ông như xuất hiện một Machiavel mới, trong khi báo L'Express gán cho ông là mẫu người đang làm rung động cả Mỹ quốc, đó là chưa kể tới những bài báo nói về ông đăng trên US News and World Report và Newsweek... Hiện tượng trên cũng được các báo Việt ngữ toa rập theo, thích thú đem ra phiên dịch và đăng tải; nhiều người coi đó như một khám phá mới lạ về một nhà tu hành tài ba, nhiều quyền lực nhưng cũng rất bí ẩn và khó hiểu.  


          Đã từ lâu chúng tôi vẫn có thành kiến với các nhà báo ngoại quốc khi họ nhận định về các vấn đề Việt Nam và chúng tôi thành thật tin tưởng rằng không một người ngoại quốc nào am hiểu vấn đề Việt Nam bằng chính những người Việt. Cái thái độ dễ dàng tin cậy vào mấy ông nhà báo ngoại quốc trong công việc tìm hiểu đất nước mình nếu không bắt nguồn từ một thái độ ỷ lại của báo chí Việt thì cũng đang coi là một hiện tượng quái gở.


          Trở lại trường hợp Thích Trí Quang, từ nhận định bảo ông là cộng sản đến ý nghĩ một tay quốc gia cực đoan, hình như chỉ cần một chút ngộ nhận. Nghĩ rằng tôn giáo sẽ còn đóng một vai trò quan trọng trong tương lai chính trị miền Nam, việc tìm hiểu mẫu một nhà tu-hành-dấn-thân đang có nhiều ảnh hưởng là điều cần thiết, đó là lý do cuộc gặp gỡ Chín mươi sáu phút với Thượng Toạ Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5-5-1966 tại Chùa Từ Đàm Huế.


    NHỮNG SAI LẦM CỦA TIME


          Hình như có một sự khác biệt rất xa giữa thực trạng miền Trung và các tin tức thổi phồng trên báo chí. Sau hơn bốn tuần lễ tranh đấu, Huế đã có một khuôn mặt sinh hoạt bình thường ngoại trừ những biểu ngữ khẩu hiệu còn treo dán rải rác, các chữ Bãi Khoá Bãi Thị kẻ sơn còn lưu vết trên nền tường; các cô nữ sinh Quyết tử đã lại tóc thề áo dài trắng tới trường đi học, súng ống cũng được trả lại cho quân đội, đài phát thanh cho đọc thông cáo kêu gọi tất cả sinh viên họp đại hội để bàn về bình thường hoá sinh hoạt Đại học.


          Nơi bến Toà Khâm, ngay trước khu Đại học, các tàu Há Mồm của Mỹ đang đổ lên bến chồng chất những thực phẩm và đạn dược, đám trẻ con xúm quanh đùa rỡn với những anh lính Thuỷ quân Lục chiến Mỹ. Trước trụ sở Thông tin ngoài các khẩu hiệu đòi bầu cử Quốc hội, chống chánh phủ Trung ương, còn có khẩu hiệu lên án Việt cộng pháo kích vào Thành nội sát hại dân chúng...


          Dấu vết những ngày máu lửa chỉ có vậy.


          Trên dốc tới Nam Giao, chùa Từ Đàm vẫn yên tĩnh nằm đó. Ngoài một số đệ tử đi lễ chùa, trong sân không có chút náo nhiệt của những phút tranh đấu. Nơi nhà Trai, trong bộ đồ rộng trắng, Thượng toạ Trí Quang đang ngồi bình thản đánh cờ với một cụ già, ngồi cạnh đó là một nhà sư trẻ Thích Mẫn Giác.


          Khi chúng tôi tới ván cờ đã mãn với phần thắng về phía Thượng Toạ, dĩ nhiên. Tuy chưa giáp mặt ông lần nào, chúng tôi đã biết mặt Thượng toạ qua hình ảnh báo chí, và đặc điểm đầu tiên để nhận ra ông là đôi mắt vô cùng sắc sảo. Không với một cử chỉ xa cách nghiêm trọng, không với cả tia nhìn mãnh liệt như thôi miên, Thượng toạ vui vẻ tiếp chúng tôi qua những nụ cười dễ gây thiện cảm và những cử chỉ tự nhiên thoải mái.


          Vào đề ngay, chúng tôi nhắc tới những lời tuyên bố của Thượng toạ trên các báo chí ngoại quốc, đặc biệt là bài của tuần báo TIME (2). Thượng Toạ cho biết:


          -- Họ có tới gặp tôi hỏi ý kiến, tôi cũng có trả lời họ một số những câu hỏi, nhưng khi bài đăng có cả những ý kiến mà tôi không hề nói, tính tôi không bao giờ muốn đính chính, bởi vậy trong các bài báo đó có những điều sai lạc.  


          Chẳng hạn tuần báo TIME gán cho tôi óc bài ngoại gay gắt và nhất là muốn quay lại thời Hoàng kim của đời nhà Lý là một điều hoàn toàn bịa đặt.


          Không bao giờ tôi chủ trương như vậy; hơn nữa công thức đời nhà Lý với những thày chùa hăng hái nắm quyền chính hoàn toàn không còn thích hợp với thời đại bây giờ, mơ ước điều đó là vô lý. Cũng như khi hỏi tôi về Quốc hội, tôi chỉ nhấn mạnh với họ ở mấy điểm: số người đi bầu, sự xâm nhập của Việt cộng và cách bầu gián tiếp người lãnh đạo hành pháp qua một Quốc hội trung gian.


          Còn về tiểu sử Thượng Toạ, ông cho rằng đó chỉ là tài liệu không xác thực của Công an.

          Xem ra bài báo TIME đã mô tả nhiều điều không đúng ý Thượng toạ nhưng chúng tôi không muốn đi sâu vào thêm.


    CHIẾN TRANH HAY HOÀ BÌNH


           Từ những nhận định cho ông có óc bài Mỹ, nhiều người e sợ rằng Quốc hội đầu tiên được thiết lập với ảnh hưởng của Phật giáo sẽ biểu quyết yêu cầu Mỹ rút lui khỏi Việt Nam để đi tới thương thuyết và chấm dứt chiến tranh. Thượng Toạ cho rằng:


          -- Bây giờ còn quá sớm để nói tới nên thương thuyết hoặc tiếp tục chiến tranh. Chỉ biết rằng chính quyền hiện tại chẳng đại diện cho một ai và hậu quả là tình trạng vô cùng bi thảm về chính trị cũng như quân sự. Nói chiến tranh thì chẳng ra chiến tranh, nói thương thuyết thì lại càng nhục nhã, chỉ có Mỹ với Hà Nội mà không ai đếm xỉa tới chính phủ Sài Gòn. Bởi vậy, chúng ta bắt buộc phải có một Quốc hội, một chính quyền dân cử, tạo một khuôn mặt quốc gia cho đúng nghĩa một Quốc Gia, việc chiến hay hoà là do nơi Quốc hội. Nếu tiếp tục chiến tranh thì lúc đó mới đúng nghĩa là một cuộc chiến tranh và nếu thương thuyết thì đó đúng là một cuộc thương thuyết nghĩa là chúng ta đã có một ưu thế.


          Phải ngồi trên chiếc xe lúc đó mới nói tới chuyện lái tới hoặc lui. Đó là phải cho có một Quốc hội. Và tôi cũng không dại gì đính chính là không muốn thương thuyết để mang lấy tiếng hiếu chiến.


          Khi nhắc đến giải pháp Trung Lập mà có người nghĩ rằng đó là chủ trương tương lai của Phật giáo, Thượng toạ Trí Quang nói:


          -- Nếu có thương thuyết để tiến tới giải pháp trung lập thì nền trung lập đó phải như thế nào. Người liều lĩnh nhất cũng không thể chấp nhận một hoàn cảnh như Lào. Pathet Lào trước đó là một phe nổi loạn, hiệp ước đình chiến 62 ở Lào là một công khai chấp nhận cuộc chiến tranh đó, Pathet Lào đương nhiên được hợp thức hoá và lại tiếp tục chiến đấu và thực sự không có một nền trung lập ở Lào.


          Như Việt Nam với tình trạng hiện giờ, một ký kết như thế là đương nhiên chấp nhận Việt Cộng và chỉ trong sáu tháng là miền Nam rơi vào tay họ. Bởi vậy tôi vẫn nghĩ phải có chiếc xe cái đã, một Quốc hội được đa số dân chúng đi bầu, đến lúc đó hãy tính xa hơn. Mọi dự đoán trước theo tôi là quá sớm.


    MỘT QUỐC HỘI KHÓ KHĂN


          Khi đề cập tới những khó khăn của một Quốc hội sắp tới: Cộng sản, Chính quyền hiện tại và người Mỹ; Thượng toạ cho rằng:


          -- Hơn ai hết, người dân quê Việt Nam đã có kinh nghiệm Cộng sản là thế nào rồi và họ biết rõ ai là Cộng sản ai không. Bởi vậy không đáng lo ngại sự xâm nhập của Việt cộng vào Quốc hội.


          Còn về phía chính quyền, Phật giáo đã giữ đúng lời hứa và để cho chính quyền có cơ hội thực hiện lời cam kết của mình với dân chúng về vấn đề Quốc hội. Nếu là một chính quyền thiện chí họ hãy tỏ thiện chí đó trong việc đi tới một Quốc hội. Nếu chính quyền phản bội thì không những lịch sử sẽ phán xét họ mà chính dân chúng sẽ có ngay phản ứng. Việc duy trì chính phủ hiện thời cho tới ngày bầu Quốc hội cũng là một cách để những tướng lãnh phản bội âm mưu phá hoại không có cơ hội lẩn tránh hèn nhát những trách nhiệm mà họ gây ra trước lịch sử.


          Còn người Mỹ thực tâm muốn miền Nam có một Quốc hội hay họ muốn ngăn cản, điều đó chưa thể đo lường được, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải tin ở mình và không nên có những hành động làm cho người Mỹ khiếp sợ.


    CÁC TƯỚNG LÃNH SAU QUỐC HỘI


          Khi đề cập đến vai trò các tướng lãnh hiện thời và sau ngày có Quốc hội, Thượng toạ Trí Quang nhận định:


          -- Nào là tình trạng chiến tranh, nguy cơ của Cộng sản, các tướng lãnh kêu gọi dân chúng, tôn giáo, đảng phái phải đoàn kết thì chính họ lại chia rẽ hơn ai hết. Họ tranh giành quyền hành, thanh toán nhau vì quyền lợi và loại dần những tướng lãnh có công khác. Nhưng trước sự chống đối của dân chúng, trước hiểm hoạ đe doạ họ liên kết chặt chẽ hơn ai hết để bảo thủ quyền lợi và lũng đoạn dân chủ. Bởi vậy mối băn khoăn chính của nhiều người là làm sao trả họ về vị trí thuần tuý quân sự, gây lại sức mạnh uy tín và kỷ luật quân đội cùng phục hồi danh dự cho những tướng lãnh có công khác.


          Hiện thời người ta phải chứng kiến một trung ương các tướng lãnh chỉ âm mưu thanh toán nhau để tự đi đến chỗ đào thải. Tại các địa phương dân chúng vẫn dành nhiều cảm tình cho các tướng lãnh trong sạch có công với cách mạng tháng 11. Như trung tướng Đính được dân chúng miền Trung chấp nhận cũng ở trong trường hợp đó.


    VỚI NGƯỜI MỸ


         Cuộc tranh đấu cho Quốc hội vừa qua có pha mùi Bài Mỹ khiến cho nhiều e ngại và tự đặt ra nhiều giả thuyết về sự lợi dụng của Cộng sản. Với vai trò của người Mỹ ở Việt Nam, Thượng toạ Trí Quang cho rằng:


          -- Sau cuộc cách mạng 63, người Mỹ được hưởng ở Việt Nam vô số lợi lộc: gia tăng gấp bội quân số, chiếm được những căn cứ tốt như Đà Nẵng, Cam Ranh; được thêm cả nước Thái Lan. Không chắc người Mỹ thực tâm muốn chống cộng tại Việt Nam, họ muốn duy trì Cộng sản, duy trì cuộc chiến tranh này để thủ lợi. Vì nếu thực tâm người Mỹ muốn, họ có thể làm khá hơn nhiều cục diện bây giờ bằng cách trợ giúp Việt Nam vừa chống cộng vừa xây dựng những căn bản dân chủ hơn là nâng đỡ những chính phủ tay sai. Điển hình là vụ Đà Nẵng vừa qua.


    MỘT TRƯỜNG HỢP ĐÀ NẴNG


          Theo Thượng toạ thì nhờ phước ông bà mới không xảy ra vụ đổ máu tại Đà Nẵng. Ngoài trách nhiệm lỗi lầm của ông Kỳ trước lịch sử còn những trách nhiệm lớn lao của Mỹ. Việc người Mỹ xử dụng những chiếc C130 để chở những tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến và xe tăng ra đàn áp phong trào dân chúng đấu tranh tại miền Trung là một lỗi lầm không thể tha thứ, Thượng toạ nói:

          -- Chỉ cần một chút nữa là xẩy ra đổ máu lớn lao với trách nhiệm nặng nề về phía người Mỹ. Lịch sử Mỹ Thế kỷ Hai Mươi sẽ có ba vết nhơ: ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, đàn áp nền cộng hoà San Domingo và vết nhơ thứ ba là vụ Đà Nẵng.


    MỘT CHÍNH PHỦ PHẬT GIÁO


          Khi nhắc tới nhận định của Tuần báo Newsweek cho rằng sở dĩ Thượng toạ Trí Quang đòi bầu cử gấp rút một Quốc hội vì ông tin rằng tổ chức Phật giáo sẽ thắng thế trong cuộc bầu cử đó và chính phủ tương lai sẽ là một chính phù Phật giáo với bàn tay chi phối trực tiếp của Chùa chiền, Thích Trí Quang đã phủ nhận mạnh mẽ ý kiến đó và bày tỏ rằng:


          -- Quan niệm đó không những không có lợi gì mà còn làm mất Danh Dự của Phật giáo. Tôi hoàn toàn không mong muốn như vậy. Kinh nghiệm cho thấy với những chính phủ tạm thời dù được hậu thuẫn của tôn giáo này hay tôn giáo khác chỉ cần những cuộc biểu tình vài trăm người cũng đủ xụp đổ. Như một chính phủ thành lập do hậu thuẫn của Phật giáo sẽ gặp ngay những khó khăn với các tôn giáo bạn, không làm được việc gì mà chính Phật giáo lại mang tiếng. Bởi vậy Phật giáo không bao giờ muốn tái diễn nhưng lỗi lầm của thời ông Diệm.


          Tranh đấu cho Quốc hội, Phật giáo chỉ muốn xây dựng một cái gì thực sự cho quốc gia dân tộc trong đó không phải chỉ có những Phật tử mà là cả những thành phân Tôn giáo bạn và các tầng lớp dân chúng.


          Quốc hội, Chính phủ sẽ không đại diện cho một ưu thế riêng nào mà là đại diện xứng đáng của dân chúng.


    CHIẾN TRANH TÔN GIÁO


          Rối loạn tháng Tám năm 1964 với những vụ thảm sát trong thành phố vẫn lá ám ảnh đen tối trong đầu óc nhiều người. Sự cọ sát giữa hai tôn giáo trong những ngày gần đây làm thức dậy nỗi ám ảnh đó. Viễn tượng một cuộc chiến tranh tôn giáo đã được một số báo chí e ngại nhắc tới. Theo ý Thượng toạ sự thật sự đe doạ đó như thế nào. Thích Trí Quang cho rằng:


          -- Sự e ngại đó quá đáng và không thể nào có. Những đáng tiếc hồi tháng Tám là do âm mưu của Nguyễn Khánh, hoàn toàn ngoài ý muốn của các vị lãnh tụ Tôn giáo. Khi phải tiếp xúc cới những vị lãnh đạo tôn giáo bạn, tôi có nói rằng chẳng thà thực sự có một cuộc chiến tranh tôn giáo vì quyền lợi hai phía; nhưng mâu thuẫn quyền lợi đó hoàn toàn không có. Bởi vậy không vì lý do gì để xảy ra những điều đáng tiếc mà nguyên nhân chỉ tại một anh tướng Kaki đứng ở giữa.


    TÍN ĐỒ HAY CÔNG DÂN


          Việc tiến tới Quốc hội Lập hiến một cách nhanh chóng là công của Phật giáo, nhiều người nghĩ như vậy. Đó là điều mà Thượng toạ Trí Quang không muốn. Ông nói:


          -- Một phong trào đấu tranh có màu tôn giáo sẽ gặp nhiều khó khăn, tự nó gây ra những mặc cảm thắng bại nơi các tôn giáo bạn. Bởi vậy tôi vẫn muốn các phong trào tranh đấu dân chủ phát xuất tự quần chúng không mang màu sắc tôn giáo, nếu có lợi cho tổ quốc, Phật giáo sẽ đứng sau hậu thuẫn. Trong cuộc xáo trộn vừa qua, khi gặp các Đại diện Hội đồng Đô Thành, tôi có nói: quý vị là đại diện cho các tầng lớp dân chúng, nếu chính quý vị đứng ra tranh đấu cho Quốc hội, Phật giáo sẽ đứng sau ủng hộ quý vị. Và trong thâm tâm tôi mong muốn như vậy.



          Sau khi tỏ ý không tin tưởng vào thực lực các đảng phái quốc gia, Thượng toạ cho rằng vai trò tranh đấu cho tự do dân chủ chính là bổn phận của thanh niên sinh viên chứ không phải của Phật giáo hay một tôn giáo nào. Thượng toạ nói:


          -- Tôi hiểu rằng khi các anh em sinh viên tham dự cuộc tranh đấu chống ông Diệm năm 1963, anh em nhìn các vị Thượng toạ hồi đó khác bây giờ. Tôi muốn được giữ nguyên cái nhìn lúc trước, bởi vậy tôi muốn Phật giáo cũng như các tôn giáo bạn được trở về vị trí của mình. Phật giáo bất đắc dĩ phải đứng ra lãnh đạo các cuộc đấu tranh là một điều tôi thấy rất chướng.








    Nguyệt san Tình Thương số 29: 4 trang 2-3-4-5 đăng trọn vẹn cuộc phỏng vấn Thích Trí Quang ngày 05.05.1966 tại Chùa Từ Đàm Huế. [nguồn: tư liệu của Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo]

    NIỀM TIN TẤT THẮNG


          Trái hẳn với triết lý nhà Phật hiểu theo nghĩa thông thường là xuất thế và yếm thế, Thượng toạ Thích Trí Quang mang khuôn mặt của một nhà tu hành mới: một Nhà-Sư-Dấn-Thân, dấn thân vào tất cả những biến động xã hội, dùng tất cả những uy tín và quyền năng sẵn có để lèo lái tới một cảnh đời thích hợp với sự phát triển của đạo giáo.


          Với con mắt nhận xét tinh tế về thời cơ đúng lúc, với niềm kiêu hãnh cao độ về nhân cách Á Đông của mình cộng thêm với tinh thần quốc gia cực đoan cố hữu, triết lý hành động kỳ lạ của Thích Trí Quang ở nơi niềm tin sắt đá về sự tất thắng trong mọi mưu lược tranh đấu. Tên ông đồng nghĩa với những âm mưu nhưng chính ông muốn đối thủ phải kính trọng cái nhân cách Á Đông của mình nên mọi hành động của ông đều được báo trước. Thượng toạ nói:


          -- Nhiều người gán cho tôi mối liên hệ mật thiết với ông Lodge, sự thật không có. Với ông Lodge hay Taylor (3) cũng vậy, mỗi lần tranh đấu tôi đều gặp, nói cho họ biết lập trường của Phật giáo thế nào, còn người Mỹ muốn sao tuỳ họ. Tôi hành động đều có báo trước ít nhất là 24 tiếng. Như vụ tranh đâu gần đây tôi chỉ gặp ông Lodge có một lần, nói rõ lập trường của Phật giáo về Quốc hội. Ông ta nói Thượng toạ nên nghĩ lại. Tôi chỉ cười và trả lời đã nghĩ rồi. Có vậy thôi. Còn dư luận cho rằng ông Kỳ đã gặp tôi trước vụ hạ Trung tướng Thi là hoàn toàn bịa đặt. Tôi chưa hề gặp ông Nguyễn Cao Kỳ một lần nào.


    LÁ VÀNG VÀ GIÓ LỐC


          Có lá vàng thì phải có gió lốc. Đó là câu so sánh của Thượng toạ Trí Quang với hiện tình người Mỹ và Cộng sản:


          -- Lá vàng đó là Cộng sản, và gió lốc chính là người Mỹ. Muốn chống  Cộng thì phải cần tới người Mỹ, thế thôi. Đối với tôi, những ảnh hưởng ngoại lai chỉ nên dùng như những phương tiện chứ bảo chấp nhận thì không.


          Đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, ông nói họ không phải chỉ là những chiếc lá vàng làm nhớp nhà mà là những chiếc lá vàng có đóng đinh.


          Vì khía cạnh chống Mỹ trong các phong trào tranh đấu vừa qua của Phật giáo, có báo ngoại quốc cho rằng Thượng toạ Trí Quang muốn đuổi Mỹ. Thượng toạ nói:


          -- Người Mỹ rất ngờ nghệch, họ không phân biệt được giữa Bài Mỹ và Chống Mỹ. Bài Mỹ là một thái độ thù ghét đương nhiên, dù người Mỹ có làm hay đến đâu cũng vẫn bị ghét bỏ, có khi lại còn thù ghét hơn. Trong khi Chống Mỹ là một thái độ phản kháng xây dựng. Bởi quan niệm hai người cùng ngồi trên một chiếc xe, thấy người kia lái bậy thì người nọ phải giành lấy mà lái nếu không muốn rớt xuống hố. Các phong trào vừa qua không mang tính chất bài Mỹ mà là chống Mỹ; chống Mỹ đã ngăn cản việc đi tới Quốc hội, chống Mỹ đã hậu thuẫn những chính phủ tay sai thối nát, chống Mỹ đã giúp phương tiện đàn áp Đà Nẵng.


          Thì ra thái độ của Thượng toạ là muốn cảnh giác người Mỹ. Cơn gió lốc phải được thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng sản.



    PHẠM ĐÌNH VY &  NGÔ THẾ VINH
    Huế 05.05.1966

    [Trích Nguyệt san Tình Thương, số 29, 1966]  

      

    Ghi chú:


    1/ Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the Vietnam War. James McAllister; Department of Political Science, Williams College, Williamstown, MA 01267


    2/ A Talk with Thich Trí Quang. McCulloch, James Wilde. Time Magazine, April 22, 1966 | Vol. 87 No.


    3/ Henry Cabot Lodge, Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam 1963-1964. Maxwell D. Taylor, Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam 1964-1965


    4/ Hành Trình Tình Thương. Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo, số 74, Tháng 4, 2017


    5/ Phạm Đình Vy, nguyên chủ nhiệm Tình Thương 1964-1967, bác sĩ Thuỷ Quân Lục chiến VNCH, sau tù cải tạo 3 năm vượt biển, sang định cư và hành nghề y khoa tại Pháp.


      

         

        


  • Một đóng góp có ý nghĩa cho y học nước nhà

    Posted on: 12 April 2017, 4:59 am



     
    Ý tưởng về công trình này được "thai nghén" từ những 4-5 năm trước. Ai cũng biết nguy cơ tử vong ở bệnh nhân khoa cấp cứu khá cao, và nhất là ở Việt Nam nơi mà bệnh viện lúc nào cũng quá tải. Ở nước ngoài, người ta có những mô hình tiên lượng để đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh nhân, và qua đó mà sắp xếp ưu tiên điều trị. Tiếng Anh gọi là "triage". Mấy mô hình này được phát triển ở bệnh nhân Âu Mĩ, và nói chung các mô hình đó có khả năng tiên lượng rất tốt, giúp cho bác sĩ rất nhiều trong việc quản lí bệnh nhân. Chúng tôi tự hỏi là các mô hình này có áp dụng được cho Việt Nam không, và có cách nào để phát triển một mô hình hi vọng là tốt hơn dành cho bệnh viện Việt Nam.


    Hai câu hỏi đơn giản vậy, nhưng phải đến 4 năm sau mới thành hiện thực. Giai đoạn đầu là làm một nghiên cứu gọi là "validation", tức kiểm định các mô hình của Âu Mĩ ở bệnh nhân Việt Nam. Công trình này làm trên hơn 1700 bệnh nhân ở Bv Đa khoa Trung ương Cần Thơ, và đã công bố trên một tập san quốc tế vào năm 2015. Sau khi có kết quả đó, chúng tôi thực hiện bước thứ hai, qui mô lớn hơn và công phu hơn. Bước thứ hai được thực hiện trên khoảng 2000 bệnh nhân, trước hết là xác định các yếu tố lâm sàng và xét nghiệm sinh hoá có thể dùng cho dự báo nguy cơ tử vong và xây dựng thành vài mô hình tiên lượng; sau đó kiểm tra mô hình này ở một bệnh viện khác cũng gần 2000 bệnh nhân. Tổng cộng là gần 4000 bệnh nhân trong nghiên cứu thứ hai. Kết quả mĩ mãn và có thể nói là "đẹp". Còn đẹp như thế nào và công phu ra sao thì các bạn phải chờ bài báo công bố nay mai để biết.


    Do đó, lần này Bs Đức và tôi phải tìm chỗ để gọi là "Chọn mặt gửi vàng", và chúng tôi chọn Scientific Reports. Lí do tại sao chọn Scientific Reports là vì vấn đề ấn phí, mô hình công bố Mở, và uy danh của tập san. Vì tác giả xuất phát từ Việt Nam, được xem là một nước đang phát triển, nên tập san miễn phí cho tác giả. (Nếu tác giả từ Úc thì ấn phí khoảng 1500-2000 USD một bài). Thứ hai là Scientific Reports theo mô hình xuất bản Mở, nên bất cứ ai cũng có thể tải về để đọc mà không phải trả tiền. Sau cùng là uy tín của tập san vốn là của tập đoàn lừng danh Nature (bây giờ thì bị Springer mua rồi, nhưng không đổi tên). Scientific Reports ra đời mới đây là để cạnh tranh với PLoS ONE lúc đó đang "nổi như cồn", nhưng chỉ sau vài năm với cái thương hiệu Nature, Scientific Reports đã qua mặt PLoS ONE về tầm ảnh hưởng (nếu đo bằng impact factor).


    Bs Đức viết thư cho tôi nói rằng cho đến giờ em ấy vẫn còn cảm giác lâng lâng. Em lo lắng rằng "chắc sau này khó mà em công bố được bài báo nào lớn như bài này." Tôi nói rằng một lần sau sẽ công bố trên một tập san còn lớn hơn và "ngon lành" hơn Sci Reports nữa. Chưa biết khi nào, nhưng điều đó chắc chắn sẽ thành hiện thực.


    Trước đây, chúng tôi đã có những nghiên cứu "thuần Việt" trên những tập san hàng đầu trong chuyên ngành. Đã có tên tuổi Việt Nam trên Int J Epidemiol, Diabetes Care, Diabetologia, Bone, Osteoporosis Int, Am J Clin Nutr, và quan trọng nhất là Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism. Nay đến Sci Reports. Do đó, chúng ta có cơ sở và lí do để tiến xa hơn và cao hơn trên bậc thang đẳng cấp quốc tế.


    Tôi thấy xu hướng mới trong khoa học ngày nay là "Big Science". Cũng giống như toàn cầu hoá, và xu hướng các nước hình thành theo khối vùng kinh tế (như APEC chẳng hạn), khoa học cũng có xu hướng đó. Đó là xu hướng các labo hay nhóm nghiên cứu trên thế giới tự hình thành các tập đoàn khoa học, gọi là "consortium", để chung tay giải quyết một vấn đề khoa học. Các dự án Big Science thường công bố trên các tập san hàng đầu như Nature, Science, Cell, NEJM, Lancet, JAMA, v.v. Làm khoa học riêng lẻ sẽ khó có cơ may xuất hiện trên tập san số 1 trên thế giới. Do đó, tôi nghĩ VN nên hình thành các consortia khoa học, và Nhà nước nên tài trợ cho các tập đoàn này.


    Nhưng trong thực tế thì VN rất khó hình thành consortia khoa học. Nó xuất phát một phần từ cá tính người mình, chẳng ai nể ai, chẳng ai chịu làm việc chung với nhau, thậm chí còn đố kị, ganh ghét, người này mới "leo lên" một chút thì đã bị dèm pha và kéo xuống (giống y như hình ảnh những con cua trong rọ). nên khó có thể làm việc chung trong các consortia khoa học. Do đó, các nhà khoa học VN chỉ còn cách là tham gia vào các tập đoàn quốc tế. Vấn đề là tham gia như thế nào mà mình phải giữ "tài sản" cho mình, không bị mất cho người khác. Điều này đòi hỏi bản lĩnh của cá nhân nhà khoa học. Để tham gia các tập đoàn khoa học quốc tế thì mình phải có "credential" cái đã. Credential qua công bố quốc tế trên các tập san lớn. Bs Đức đang tạo cái credential đó cho VN.


    Nhân dịp này thì tôi cũng gửi lời chúc mừng đến Bs Đức và đồng nghiệp đã hoàn tất đẹp công trình nghiên cứu đẹp, góp phần đưa tên tuổi Việt Nam trên trường quốc tế. Để chứng minh rằng đây không chỉ là công bố quốc tế cho đẹp lí lịch, mà nghiên cứu còn phải đem lại lợi ích thiết thực cho bệnh nhân, bước kế tiếp là đăng kí bản quyền sáng chế. Sau đó là triển khai để các bác sĩ trên thế giới sử dụng mô hình của Bs Đức, chắc chắn sẽ giúp giảm tử vong cho nhiều bệnh nhân. Và, như vậy là một đóng góp có ý nghĩa cho y học nước nhà rồi.


  • Older news items:

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: