Bài vở của GS Nguyễn Văn Tuấn, Úc Châu

Category: General Published: 16 April 2017
Hits: 259

Nguyễn Văn Tuấn là một nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Ông hiện là nghiên cứu viên chính tại viện Garvan, Úc.

Ông sinh ra và lớn lên tại Kiên Giang. Vượt biên rời Việt Nam bằng thuyền năm 1981, năm 1982 ông sang định cư tại Úc.

Khi sang Úc định cư, ông bắt đầu bắc các công việc phụ bếp, rồi làm phụ tá trong phòng thí nghiệm sinh học tại Bệnh viện St. Vincent’s.

Từ năm 1987-1997: Ông lần lượt tốt nghiệp Thạc sĩ thống kê Đại học Macquarie (Úc), Tiến sĩ y khoa Đại học New South Wales (Úc), Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ (postdoc) tại đại học Wright State, Mỹ và Đại học Basle, Trung tâm nghiên cứu lâm sàng Sandoz (Thụy Sĩ) và Bệnh viện St Thomas (Anh).

Năm 2009, ông được bổ nhiệm chức danh Giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học New South Wales (Úc) trong khi công việc chính vẫn là nghiên cứu viên chính của viện Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Úc. Từ năm 2008 - 2013 ông được làm Nghiên cứu viên cao cấp Hội đồng quốc gia về nghiên cứu y khoa và y tế Úc (NHMRC).[1]

Trên trường quốc tế ông đã có gần 150 công trình nghiên cứu khoa học mà 70% là về di truyền học, 30% là dịch tễ học.

Ngoài lĩnh vực Y khoa tạo nên tên tuổi, ông cũng dành thời gian viết về nghiên cứu văn học và báo chí, với những bài viết sắc sảo trên những tờ báo lớn ở Việt Nam.

Bài viết đầy đủ khác của GS Nguyễn Văn Tuấn tại trang chủ tuanvannguyen.blogspot.com.

tuan's blog

  • Trung Quốc: kẻ khổng lồ phá huỷ môi sinh

    Posted on: 21 May 2017, 8:29 pm



    Trung Quốc: kẻ khổng lồ phá huỷ môi sinh


    "Trung Quốc là gã khổng lồ đang im ngủ. Hãy để nó yên giấc, vì khi thức dậy nó sẽ chuyển dịch cả thế giới". Napoléon Bonaparte


    "China is a sleeping giant. Let her sleep, for when she wakes she will move the world." Napoléon Bonaparte, 1816 à Saint Hélène



    NGÔ THẾ VINH





    Hình 1: Con tàu cá lưới rà / trawler Trung Quốc có khả năng vét nạo tới đáy đại dương: những chiếc tàu khủng ấy đang đánh cá lậu ngoài khơi các xứ Tây Phi châu và các nơi khác; một lối đánh cá lùng và diệt nguồn tài nguyên của hành tinh này. [nguồn: India Live Today, July 8, 2016] 


      
          TRUNG QUỐC VÉT CẠN NGUỒN CÁ


         Thời kỳ mà biển còn tràn đầy các loại cá, đời sống ngư dân tốt đẹp no đủ. Nhưng giờ đây ở phía bên kia trái đất, ngư dân các xứ Tây Phi châu như Guinea, Senegal đang than thở là biển hết cá họ chỉ kéo lên được những mẻ lưới gần như trống trơn. (1,2)


          Trong khi đó, ở một tỉnh miền đông Trung Quốc, Zhu Delong 75 tuổi cũng lắc đầu nhìn vào mẻ lưới với lác đác mấy con cá nhỏ và vài con tôm đỏ. Ông ta hồi tưởng: "Khi còn bé, tôi có thể câu được những con cá đù vàng/ yellow croakers rất lớn. Nhưng nay thì ngoài biển trống trơn rồi."


          Theo lượng giá của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, do bị lưới bắt quá mức, nguồn cá biển trên toàn cầu đang dần cạn kiệt. Trên khắp các đại dương, do đánh cá theo lối lùng và diệt, mà đa phần là các hạm đội tàu cá Trung Quốc, đã ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống bao nhiêu triệu ngư dân các quốc gia nghèo mà tài nguyên biển là nguồn lợi tức chính và cũng là thực phẩm của họ.





     
    Hình 2: Số hạm đội tàu cá Trung Quốc ngày càng gia tăng, tăng mức đánh trộm cá ngày đêm suốt dọc vùng biển Tây Phi châu

    [nguồn: Greenpeace Africa 20.05.2015]





    Hình 3: Với hơn 2,600 tàu cá lớn, Trung Quốc hiện diện cùng khắp: trên Biển Đông, Úc châu, Ấn Độ Dương, Tây Phi châu và Nam Mỹ, họ được mệnh danh là "Vua của Đại Dương" [nguồn: The NYT 04.30.2017]


          Trung Quốc với ngót 1.4 tỉ dân, chiếm 1/5 dân số toàn cầu, kinh tế phát triển, đã qua giai đoạn đói kém, lợi tức gia tăng mỗi năm, họ có nhu cầu ăn ngon và hải sản trở thành nguồn thức ăn được ưa chuộng. Để cung ứng nhu cầu ấy, Trung Quốc đã thành lập các hạm đội gồm những con tàu sắt lớn, không chỉ là tàu đánh cá mà còn có vai trò bán quân sự / militia trên đại dương, họ được nhà nước TQ cung cấp ngân khoản đóng tàu, dụng cụ hải hành, nhiên liệu và cả những khoang nước đá ướp giữ cá trong nhiều tuần lễ cho những cuộc hải hành rất xa tới Tây Phi châu hay Nam Mỹ. Các hạm đội tàu cá này còn được hoả lực của hải quân TQ bảo vệ.


          Đối với Bắc Kinh, các hạm đội tàu cá này giúp TQ xác định tham vọng chủ quyền về lãnh hải đang có những tranh chấp trên Biển Đông. Chính quyền tỉnh đảo Hải Nam luôn luôn khuyến khích các đoàn tàu cá TQ ra các vùng biển quần đảo Hoàng Sa/ Paracels thuộc Việt Nam và trên Trường Sa / Spratlys nơi mà Philippines và cả Việt Nam đều tuyên bố có chủ quyền.


          Đáng sợ nhất phải kể những con tàu lưới rà/ trawlers Trung Quốc có khả năng tung những mẻ lưới dài hàng dặm đụng tới đáy biển sâu, cào vét mọi sinh vật trong lòng đại dương, bốc lên cả những khối san hô và những bãi sò / oyster beds; và 90% đã bị chết khi bị ném trở lại lòng biển. Loại tàu lưới rà / trawlers này bị cấm ở nhiều quốc gia vì hậu quả huỷ hoại quá lớn trên toàn sinh cảnh đại dương nhưng lại được Trung Quốc tận dụng. [Hình 1]


          Do nguồn cá trên biển Trung Quốc gần như cạn kiệt, ngư dân TQ được khuyến khích của nhà nước đưa những hạm đội tàu đánh cá tới các vùng biển xa của những quốc gia khác.


          Những hạm đội tàu cá Trung Quốc này không chỉ vẫy vùng trên Biển Đông, mà còn đi xa tới cả hơn nửa vòng bên kia trái đất, tới vùng biển Tây Phi châu và cả xuống tới Nam Mỹ. [Hình 2, 3]


          Theo một nghiên cứu của Đại học Singapore, nhà nước TQ đã tài trợ cho kỹ nghệ ngư nghiệp / fishing industry 22 tỉ MK tăng gấp 3 lần so với 4 năm trước (2011-2015),


          Hạm đội tàu cá TQ tới các vùng biển xa / distant-water đã lên tới 2,600 chiếc (số tàu cá Hoa Kỳ chỉ bằng 1/10). Nơi vùng biển Senegal, những con tàu sắt ấy có thể lưới số lượng cá trong một tuần bằng cả một năm lưới bắt của ngư dân địa phương.


          Khi nói tới đánh cá toàn cầu, thì TQ là vua của đại dương / king of the sea. TQ là quốc gia xuất cảng hải sản lớn nhất thế giới, dân TQ tiêu thụ 1/3 lượng cá đánh bắt được, 2/3 cá còn lại là xuất cảng. Kỹ nghệ hải sản cũng đã cung cấp việc làm cho 14 triệu dân TQ.


          "Thực chất, cái gọi là đánh cá truyền thống trong vùng biển TQ chỉ còn là một cái tên. Đối với giới lãnh đạo TQ thì việc bảo đảm cung cấp nguồn hải sản không chỉ tốt cho kinh tế mà còn góp phần vào ổn định xã hội và chánh trị." Theo Zhang, thuộc ĐH Nanyang.


    TRUNG QUỐC CƯỚP CƠM CHIM


          Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc, giải thích với các bạn trẻ lớn lên ở ngoại quốc về thành ngữ "cướp cơm chim"; đó là một cái gì rất thiết yếu như nắm cơm ít ỏi của những người nghèo khổ nhưng vẫn bị kẻ giàu có nhẫn tâm cướp đi. Đó cũng chính là hình ảnh các hạm đội tàu cá Trung Quốc đánh trộm và cướp cá của những ngư dân nghèo khó trên khắp thế giới.


           Senegal điển hình cho một quốc nghèo của Tây Phi châu với 14 triệu dân và 300 dặm bờ biển và nguồn cá như mạch sống của họ. Mạch sống ấy

     đang bị TQ nạo vét đến cạn kiệt. (1)


          Làm sao mà cư dân địa phương chỉ với những chiếc thuyền gỗ mỏng manh có thể đương đầu với hạm đội tàu sắt không khổng lồ với lưới cào trải rộng hàng dặm của Trung Quốc. [Hình 1,4] Hậu quả là những ngư dân Senegal vốn đã nghèo khổ, nay không còn lợi tức, không còn đủ cá để ăn như là nguồn protein chính của họ.  


          Alssane Samba, nguyên giám đốc nghiên cứu Hải học viện Senegal đưa ra nhận định: "Chúng tôi đang phải đương đầu với một khủng hoảng chưa từng có, và nếu sự việc cứ tiếp tục như vậy, dân chúng Senegal sẽ phải ăn sứa / jellyfish để sống còn." (1)


           Theo World Bank/ Ngân hàng Thế giới thì hải sản không chỉ là nguồn protein của dân chúng Senegal mà kỹ nghệ thuỷ sản còn là nguồn lợi tức xuất khẩu và đem lại 20% công ăn việc làm cho họ.


          Trước đây, ngư dân đánh bắt được những con cá mú / grouper và cá thu / tuna rất lớn nhưng bây giờ thì họ phải tranh giành nhau từng mớ cá mòi / sardine nhỏ vụn. Ngư dân Senegal ngày nay muốn đánh bắt cá thì phải chấp nhận hiểm nguy dám ra xa với những chiếc thuyền gỗ của họ, không kể bất chắc về thời tiết nhưng khi gặp hạm đội tàu cá lớn / super trawlers của TQ thì những chiếc ghe gỗ mỏng manh của họ có thể bị húc chìm. Cam phận với những mớ cá nhỏ còn đánh được, tương lai của họ gần như vô vọng. 


          Thêm nạn hạn hán vì thay đổi khí hậu / climate change, đã lại xô đẩy thêm hàng trăm ngàn nông dân Senegal từ vùng quê ra các vùng duyên hải kiếm sống khiến quốc gia này càng lệ thuộc vào biển, trong khi tài nguyên biển cũng đã bị cạn kiệt.


          Do các đợt di dân ra vùng biển đã biến thị trấn duyên hải Joal từ một làng cá nhỏ với vài chục thuyền cá nay đã trở thành một thị trấn 55,000 dân với 4,900 chiếc thuyền gỗ. Abdou Karim Sall chủ tịch hội ngư dân địa phương được coi như một người hùng khi tự tay bắt được 2 thuyền trưởng tàu đánh cá lậu TQ nói: "Chúng tôi vẫn nghĩ cuộc sống biển là vô tận, nhưng nay thì đang phải đối đầu với một thảm hoạ."


          Cuộc sống ngày càng khó khăn, bế tắc cuối cùng đã xô đẩy họ thành đám thuyền nhân tị nạn kinh tế bất đắc dĩ đổ sang các xứ Âu châu. Moustapha Balde 22 tuổi, có đứa em họ vị thành niên vượt biển bị chết do đắm tàu trên Địa Trung hải, nói: "Người ngoại quốc thì than phiền về đám di dân từ Phi châu nhưng cũng chẳng ai quan tâm gì tới đám người - ám chỉ Trung Quốc tới vùng biển chúng tôi và đánh cắp hết cá."


          Dyhia Belhabib chuyên viên ngư nghiệp đang có những cố gắng lượng giá tình trạng đánh cá lậu dọc bờ biển Tây Phi châu và tệ hại nhất vẫn là những hạm đội tàu cá tới từ TQ. Chỉ riêng vùng biển Senegal, TQ đã đánh trộm 40,000 tấn cá / năm, gây thiệt hại lên tới 28 triệu MK. Con số thiệt hại thật sự lớn hơn nhiều do các tàu cá lậu TQ hoạt động mạnh mẽ trong vùng biển cấm nhất là vào ban đêm. 


          Thảm cảnh bị TQ cướp cá ấy cũng diễn ra trên xứ Guinea, một quốc gia Tây Phi châu khác. Hải cảng Bonfi thuộc thị trấn Conakri cũng thật ảm đạm với những chiếc thuyền gỗ sơn nhiều màu sắc đã chẳng còn đem về được những mẻ cá sung túc như xưa. Người dân cảng Bonfi chỉ biết giận dữ nhưng cũng bó tay chẳng làm được gì với những đoàn tàu cướp cá của Trung Quốc. Chính phủ Guinea không chỉ thiếu phương tiện bảo vệ biển mà còn bị tê liệt vì nạn tham nhũng.


          Với Trung Quốc thì thảm hoạ nơi quốc gia khác lại là cơ hội của họ. Theo tổ chức Greenpeace, thì điều vô cùng tệ hại và cả nhẫn tâm của TQ là khi mà cả đất nước Guinea đang bị khốn đốn để đối phó với trận dịch kinh hoàng Ebola 2014, thì lúc đó thay vì tham gia cứu trợ, thì chính là lúc các hạm đội đánh TQ tăng tốc đưa thêm hạm đội tới khai thác đánh cá lậu của quốc gia này.


          Theo nhận định của Tổ chức Công lý Môi trường/ Environment Justice Foundation (EJF) thì Tây Phi châu là nơi có mức đánh cá lậu lớn nhất thế giới. Trung Quốc đã làm giàu bằng cách cướp nguồn cá cũng là thực phẩm thiết yếu của những người dân nghèo khổ nhất của các xứ Tây Phi châu như Cape Verde, Mauritania, Gambia, Guinea, Guinea-Bissau, Dierra Leone, Senegal... Nghèo, thiếu phương tiện tự vệ, họ bị nước lớn TQ bắt nạt. Các chính quyền tham nhũng Tây Phi / [nuôi dưỡng tham nhũng cũng là sức mạnh mềm của TQ], với không thiếu những khẩu hiệu hô hào bảo vệ biển nhưng dân chúng thì hiểu đó chỉ là những sáo ngữ trống rỗng. Phải đương đàu với một nước lớn như Trung Quốc, từng được mệnh danh là "quốc gia hải tặc/ a pirate nation", thì đây quả là một trận đánh leo dốc/ uphill battle, phần thua luôn luôn là phía họ. 



    Hình 4: Chiếc thuyền gỗ đánh cá mong manh của ngư dân Guinea luôn luôn bị xua đuổi và trấn áp bởi những con tàu sắt lưới rà lớn /super trawlers của Trung Quốc [nguồn: BBC World-Africa 8 July 2016]


          TQ có một hạm đội tàu cá lớn nhất thế giới có khả năng đi hàng tháng tới các vùng biển xa trên khắp toàn cầu, và đánh cá lậu trên các vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của các quốc gia khác. Có thể nói không một quốc gia nào có biển mà không bị các hạm đội tàu cá TQ xâm nhập đánh cá bất hợp pháp.


          Theo lượng giá của LHQ, những đoàn tàu đánh cá lậu, chủ yếu là từ Trung Quốc đã làm thiệt hại nền kinh tế toàn cầu 23 tỉ MK mỗi năm. Và vùng biển Tây Phi châu là nơi có mức đánh cá lậu lớn nhất thế giới, theo nhận định của Tổ chức Công lý Môi trường/ Environment Justice Foundation (EJF), là một tổ chức phi chánh phủ của Anh quốc. " Những tay điều hành các vụ cướp cá lậu này đã làm giàu bằng bóc lột chính đám cư dân nghèo khổ nhất của các xứ Tây Phi."


    RỒI NHÌN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ VIỆT NAM


          Hàng ngàn ngư dân Phillipines đã bị các tàu hải quân TQ đánh đuổi ra khỏi vùng đánh cá quanh Trường Sa, từ trước đến nay vẫn là vùng đánh cá truyền thống của họ. Ngư dân tỉnh Palawan, do không còn sống được trên biển, họ phải xoay ra đốt rừng làm rẫy nhưng do đất đã bị mưa sói mòn, khô cằn và họ cũng không thể sống bằng canh tác. (1)


           Việt Nam với 2,200 km bờ biển, với câu văn Giáo Khoa Thư: rừng vàng, biển bạc nay đã đi vào quá khứ. Rừng bị phá gần hết, biển thì nhiễm độc và cạn cá. Ngư dân Việt Nam một cổ hai tròng, khổ hơn cả những người dân Tây Phi châu. Không phải chỉ mất nguồn cá, biển của họ cũng đã bị cướp. Họ phải giá bằng sinh mạng nếu muốn ra vùng biển vốn bấy lâu vẫn thuộc ông cha mình.  



     
    Hình 5: Đoàn tàu gỗ đánh cá Biển Đông trên Sông Tiền chuẩn bị ra khơi, họ luôn luôn bị Trung Quốc truy đuổi ngay trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam mà không được bảo vệ  [nguồn: photo by Ngô Thế Vinh]


    -- 07 tháng 6, 2015: tàu TQ dùng những súng vòi rồng / water canons gây hư hại cho tàu cá Việt Nam


    -- 10 tháng 6, 2015: bốn tàu TQ vây một tàu cá VN trấn áp 11 ngư dân VN và cướp trọn 6 tấn cá lên 4 con tàu của họ


    -- 19 tháng 6, 2015: lính TQ đổ bộ lên một tàu cá VN, phá huỷ lưới cá, tịch thu các dụng cụ truyền tin và la bàn; cướp đi 5 tấn cá


    -- 29 tháng 9, 2015: tàu TQ và nhóm võ trang đổ bộ lên một tàu cá VN, tịch thu các dụng cụ hải hành và cướp đi 2 tấn cá và đánh chìm con tàu 12 giờ sau đó


    -- 14 tháng 11, 2015: một hạm đội tàu TQ vây hãm 5 thuyền cá VN tại Vịnh Bắc bộ, phá huỷ cá hết lưới cá cho tới khi được lực lượng hải cảnh VN giải cứu.


    -- 01 tháng 01, 2016: tàu TQ đã húc và đánh chìm tàu cá VN chỉ cách Cồn Cỏ 40 dặm ngoài khơi tỉnh Quảng Trị, 11 ngư dân VN được các ghe bạn tới cứu sau đó


    -- 06 tháng 03, 2016: 11 người từ 2 tàu Hải giám có treo cờ TQ đột nhập lên một tàu cá VN ngoài khơi Hoàng Sa, chúng không chỉ phá huỷ các dụng cụ hải hành, lưới cá mà còn tịch thu hết thức ăn, số thùng dầu dự trữ và cướp đi tất cả lượng cá đánh bắt được


    -- 13 tháng 05, 2016: một tàu TQ húc và đánh chìm một tàu cá VN ngoài khơi tỉnh Quảng Nam, 350 hải lý đông bắc Đà Nẵng trong vùng quần đảo Hoàng Sa, họ mất toàn bộ thiết bị đánh cá và cả bị cướp đi 30 tấn mực tổn thất lên tới 450.000 MK. 


    -- 09 tháng 07, 2016: tàu cá VN cùng 5 ngư dân đã bị tàu hải cảnh TQ truy đuổi, đâm chìm tại khu vực gần quần đảo Hoàng Sa cách đảo Bông Bay 34 hải lý của Việt Nam và rồi bỏ rơi họ trên biển. 

    -- 10 tháng 11, 2016: tàu cá KH 97580-TS của VN bị tàu hải cảnh TQ húc và truy đuổi ra khỏi vùng biển Hoàng Sa trong khu vực đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn.


    -- 01 tháng 05, 2017: mới đây nhất tàu cá BĐ 93241-TS trên tàu có 15 thuyền viên đã bị "tàu lạ" đâm chìm khiến một ngư dân VN tử vong và một bị thương.

    ...

          Trung Quốc liên tục tấn công vào các đoàn tàu cá Việt Nam (3), rõ ràng không phải là các sự kiện riêng lẻ, nhưng là một chiến lược nhất quán. Bắc Kinh đã bật đèn xanh cho những cuộc tấn công liên tiếp ấy; chính sách "một hòn đá giết hai con chim". Bằng bạo lực, TQ xác định chủ quyền trên vùng biển đang tranh chấp; cùng một lúc khai thác độc quyền cướp trọn tài nguyên, nguồn dầu, nguồn cá không chỉ trong vùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà xâm lấn cả vùng cận duyên hiển nhiên là thuộc chủ quyền bất khả xâm phạm của Việt Nam.


          Ngư dân Việt Nam thì vẫn dũng cảm bám biển, họ được nhà nước bảo vệ qua những lời tuyên bố lập lại sáo rỗng của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam: "Lên án mạnh mẽ các hành vi đối xử vô nhân đạo, sử dụng vũ lực đối với ngư dân Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc điều tra và xử lý nhân viên tàu hải cảnh đã cố ý đâm chìm tàu cá VN, bỏ mặc ngư dân trong điều kiện nguy hiểm đến tính mạng. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, không để tái diễn các hành động tương tự và có hình thức bồi thường thoả đáng cho ngư dân Việt Nam." VnExpress 13.07.2016


          Kết quả của các công hàm phản đối đó ra sao, các nạn nhân có được nhà nước Trung Quốc bồi thường thoả đáng hay không thì chính những ngư dân sống sót ấy họ biết rất rõ. Và như từ bao giờ, mối quan hệ giữa Việt Nam Trung Quốc vẫn được Bộ Chính trị Hà Nội rêu rao đánh giá là tốt đẹp với phương châm 4 tốt và cả 16 chữ vàng.





    Hình 6: Tàu Trung Quốc húc chìm tàu cá Việt Nam ngay trong Vùng Kinh Tế Đặc quyền / Exclusive Economic Zone của Việt Nam; đây chỉ là một trong chuỗi những sự kiện liên tục TQ tấn công các tàu cá của Việt Nam. 

    [nguồn: Bloomberg News May 26, 2014]


          Cũng cần mở thêm một dấu ngoặc ở đây, một sự kiện đáng buồn là do các ngư dân Việt Nam, không được nhà nước bảo vệ lại bị Trung Quốc dùng võ lực truy đuổi không cho đánh cá trên vùng biển quen thuộc của mình, trong cảnh bần cùng ấy, để có thể sống còn, một số đã liều mạng lái ghe tàu xâm nhập vùng biển của các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và mới đây xuống xa tới cả Úc châu. Số tàu nhỏ nhoi của ngư dân Việt tự phát ấy chẳng là gì so với những hạm đội tàu đánh cá lậu hùng hậu của Tàu được hỗ trợ toàn diện bởi nhà nước Bắc Kinh nhằm đáp ứng cùng một lúc các nhu cầu kinh tế, xã hội và cả quân sự của một Trung Quốc đang theo chủ nghĩa bành trướng.   


    CHÍNH SÁCH MỀM NẮN RẮN BUÔNG


          Trung Quốc đánh trộm cá và ngang nhiên xâm phạm lãnh hải của các quốc gia khác đã đưa tới những vụ tranh chấp. Mức độ tranh chấp với Trung Quốc và phản ứng ra sao là tuỳ thuộc ở sức mạnh của nước sở tại. Chỉ riêng vùng Thái Bình Dương, không kể vùng biển rộng lớn quanh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà TQ hiện chiếm đoạt, TQ còn đưa những đoàn tàu đánh cá lậu vào vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của các quốc gia khác như Nhật Bản, Nam Hàn, Nam Dương, Phillipines và Việt Nam. "Mềm nắn rắn buông" là chính sách "bắt nạt" của các hạm đội tàu cá TQ. Gặp lực lượng tuần duyên hùng mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn có đủ sức truy đuổi thì các đoàn tàu đánh cá lậu TQ không còn dám bén mảng tới.


          Giận dữ và cam chịu là tình cảnh của các nước Tây Phi châu không có khả năng tự vệ. Ngư dân Việt Nam cho dù bị Trung Quốc truy đuổi và trấn áp nhưng họ vẫn kiên cường cố bám biển.


          Nhưng với các quốc gia khác thì khác. Nam Dương đã từng bắt giữ nhiều tàu Trung Quốc vào đánh cá lậu trong vùng biển của họ, và cả dùng không lực với các phản lực cơ 5 F-16 ra tới các đảo Natuna đánh chìm các tàu thuyền tàu xâm nhập bất hợp pháp. Chỉ mới đây thôi, tháng 4, 2017 Nam Dương đã lại cho phá huỷ thêm 81 tàu cá lậu ngoại quốc, dĩ nhiên trong số đó có những con tàu Trung Quốc, nâng tổng số lên hơn 300 chiếc kể từ 2014 thời Tổng thống Joko Widodo. Nam Dương rất quyết tâm bảo vệ biển và nguồn cá của mình cho dù đưa tới căng thẳng ngoại giao với Bắc Kinh.   

          Nam Hàn do có một lực lượng tuần duyên rất mạnh và cả chính sách cứng rắn nên khi phát hiện đoàn tàu đánh cá lậu Trung Quốc, họ đã nổ súng truy đuổi và trấn áp với hậu quả để lại một số tử vong và đoàn tàu đánh cá lậu Trung Quốc đã phải tháo chạy. [Hình 7]




    Hình 7: Đoàn tàu đánh cá lậu Trung Quốc bỏ chạy khi bị lực lượng tuần duyên Nam Hàn truy đuổi; liệu bao giờ có một hình ảnh hào hùng như vậy với một lực lượng tuần duyên của Việt Nam [nguồn: báo Dong-A Ilbo]


          Ngày 15.03.2016 lực lượng tuần duyên Argentina Nam Mỹ, đã phát hiện một tàu lớn của TQ đang đánh lậu cá trong vùng hải phận của mình và đã yêu cầu con tàu phải rời đi nhưng họ chống cự lại và kết quả là con tàu TQ bị Argentina bắn chìm, 4 ngư phủ bị bắt sống và số thuỷ thủ còn lại đã thoát đi trên một con tàu TQ khác.






    Hình 8: Argentina, Nam Mỹ đánh chìm tàu đánh cá lậu Trung Quốc

    [nguồn: AFP/ Getty Images 15 March 2016]


    NAPOLÉON VÀ ĐẤT NƯỚC TRUNG HOA


          Napoléon một thiên tài quân sự của nước Pháp thế kỷ 19, đã tiên tri về một đất nước Trung Hoa: "Đó là một gã khổng lồ đang im ngủ. Hãy để nó yên giấc, vì khi thức dậy nó sẽ chuyển dịch cả thế giới"


           Sang đầu Thiên niên kỷ thứ Ba, hơn hai thế kỷ sau Napoléon, một Trung Quốc đã thức giấc. Nó không chỉ làm rúng động mà cả xoay lệch trục hành tinh này theo cái nghĩa huỷ hoại. Gã khổng lồ có dân số đông nhất thế giới ấy đã đem tới những tín hiệu xấu cho hành tinh này: vô địch về gây ô nhiễm đất và không khí, phá huỷ cực thứ ba của trái đất là Tây Tạng nơi phát nguồn các dòng sông lớn Châu Á; đang khai thác huỷ diệt đời sống các đại dương / marine life. Nay với thêm chiến lược "một vòng đai một con đường / one border one road" Trung Quốc đang muốn chinh phục và thu hết tài nguyên thế giới với "lý lẽ của kẻ mạnh". 


          Trở lại với Việt Nam, không kể tới một thiểu số đại gia tư bản đỏ, với hơn 95 triệu dân, đứng thứ 14 trong số các quốc gia đông nhất thế giới, họ có một mẫu số chung, một giấc mộng rất bình thường: được thở bầu không khí trong lành, uống ly nước tinh khiết, có bữa ăn gia đình đủ mấy chén cơm, với tô cá và mớ rau sạch.


          Nhưng với bùn đỏ bauxite đổ ra trên Tây Nguyên, với nhà máy giấy Lee & Man bên bờ Sông Hậu, với nhà máy thép Formosa nơi biển Hà Tĩnh vẫn không ngừng đổ ra các chất độc, đưa ô nhiễm lên mức báo động đỏ, thì một giấc mơ tầm thường đến như vậy xem ra cũng đang vuột xa khỏi tầm tay của người dân Việt. Và câu hỏi đặt ra là vì đâu nên nỗi?  


          Vẫn có đó một bài học lịch sử: dân tộc muốn sinh tồn phải có nội lực, có sức mạnh đoàn kết bên trong và bên ngoài và phải biết nói "không" với Trung Quốc.


       

    NGÔ THẾ VINH

    California, 21 Tháng 5, 2017


    Tham Khảo:

    1/ China's Appetite Pushes Fish Stocks to Brink; Overfishing by Giant Fleet Exacts a Toll on Oceans Worldwide. Adrew Jacobs, The New York Times, Sunday 04.30.2017


    2/ How China's Trawlers are Emptying Guinea'S Ocean. BBC World Africa, 08 July 2016 http://www.bbc.com/news/world-africa-36734578


    3/ China Continues Attacks on Vietnamese Fishing Boats. Gary Sands, 13 May 2016. Foreign Policy Association


    4/ China’s Reclamations Roil South China Sea; James Borton; World News / 11 April 2015; https://intpolicydigest.org/2015/04/11/china-s-reclamations-roil-south-china-sea/


    5/ Chinese Illegal Fishing Threatens World Waters. AsiaToday; The WorldPost. http://www.huffingtonpost.com/asiatoday/chinese-illegal-fishing-t_b_10425236.html


         


         














      













  • Thực phẩm biến đổi gen: an toàn cho sức khỏe?

    Posted on: 19 May 2017, 9:29 pm



    "Biến đổi gen" có nghĩa là gì?


    Cụm từ "biến đổi gen" dĩ nhiên là dịch từ tiếng Anh, "genetic modification".  Nhưng để hiểu cụm từ này đầy đủ, thiết tưởng chúng ta phải bắt đầu định nghĩa thế nào là gen. Tưởng đâu là chuyện đơn giản, nhưng không hẳn vậy đối với người trong chuyên ngành, nhất là sau dự án ENCODE. Nhưng để không mất thì giờ các bạn và đi thẳng vào vấn đề, một gen được định nghĩa là liên hợp những chuỗi kí tự mã hóa các protein, hay viết bằng tiếng Anh có lẽ rõ ràng hơn: "a gene is a union of sequences encoding for proteins". Chúng ta biết rằng chỉ có 4 kí tự hay nucleotide (còn gọi là "bases"): A, G, C và T. Mệnh đề "chuỗi kí tự" hay sequence là rất quan trọng, vì nó định hình một gen. Chúng ta biết rằng trong hệ gen (genome) có 6 tỉ cặp nucleotide, nhưng chỉ có khoảng 23000 gen. (Cho đến nay, chúng ta không biết chính xác bao nhiêu gen.)


    Khi giới khoa học nói "biến đổi gen" có nghĩa là biến đổi chuỗi kí tự hay mảng DNA. Có nhiều cách để biến đổi chuỗi kí tự. Thời xưa, khi chưa có công nghệ di truyền thì cách đơn giản nhất là lai giống (1). Ở miền Tây, người ta ghép cây bình bát với cây mãng cầu xiêm. Lai giống, nói theo ngôn ngữ thời nay, là tái tổ hợp các cấu trúc gen, tức là cũng thay đổi chuỗi kí tự trong gen. Nhưng với công nghệ di truyền và tiến bộ trong sinh học phân tử, ngày nay, giới khoa học có thể chọn một mảng DNA từ gen của loài vật này cấy sang gen của loài vật khác, và phương pháp này có khi gọi là "recombinant DNA technology" hay "genetic engineering".


    Do đó, tôi thấy Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa về sinh vật biến đổi gen (hay GMO -- genetically modified organisms) là đúng nhất. Họ định nghĩa rằng sinh vật biến đổi gen (bao gồm thực vật, động vật, vi sinh vật) có đặc điểm là các chất liệu di truyền (DNA) đã bị biến đổi không theo qui luật tự nhiên, mà qua lai tạo, phối giống, và các kĩ thuật di truyền (2). Ví dụ như gen mã hóa protein tinh thể (gây bệnh cho côn trùng) của vi khuẩn Bacillus thuringiensis có thể “cấy” vào bông vải để làm cho chúng có khả năng chống lại ấu trùng và các virus khác. Qua kĩ thuật biến đổi gen như thế, giới khoa học có thể làm cho sinh vật mới kháng rầy, kháng thuốc diệt rầy, và kháng virus. Đó là một cách hiểu về GMO, và như chúng ta thấy, thực chất là genetic engineering là một phần của genetic modification.


    Thực phẩm biến đổi gen không mới


    Với định nghĩa trên thì như trình bày trên thì việc biến đổi gen đã diễn ra lâu và như là một quá trình tất yếu trong tiến bộ khoa học và văn minh nông nghiệp. Văn minh nông nghiệp diễn ra một cách độc lập trong nhiều vùng trên thế giới, nhưng bằng chứng cổ xưa nhất cho thấy kĩ thuật làm nghề nông đã được ứng dụng ở vùng Đông Nam Á (chứ không phải Trung Đông hay Trung Quốc như nhiều người lầm tưởng) hơn 10,000 năm trước đây. Trước đó khoảng 200,000 năm, trước khi nông nghiệp ra đời, con người sống theo cuộc sống du mục, mà thực phẩm được thu thập bằng săn bắn, hay đào bới từ những cây cỏ hoang và thú rừng. Sau khi cây cỏ và thú vật được thuần hóa, con người bắt đầu tiến hành một cuộc cách mạng nông nghiệp làm thay đổi xã hội con người.


    Sự phát triển này xảy ra ở Đông Nam Á trước tiên, và sau đó lan truyền sang các vùng khác trên thế giới. Sự thay đổi từ cuộc sống du mục sang cuộc sống nông nghiệp cho ra đời một xã hội định cư, và dẫn đến phát triển về ngôn ngữ, văn học, khoa học, và công nghệ, bởi vì con người được giải phóng khỏi cái công việc săn bắt hái lượm hàng ngày.


    Cây quả cũng tiến hóa, hay nói cho đúng hơn là chúng cũng thay đổi nhanh chóng với sự “can thiệp” của con người. Mỗi cây quả mà chúng ta có ngày nay có liên hệ với những giống cây hoang trong thiên nhiên từ thời tiền sử, và “tổ tiên” của chúng vẫn hiện diện trong nhiều nơi hoang dã trên thế giới. Những con người đầu tiên chắc chắn đã thử qua hàng triệu cây cỏ trước khi chấp nhận và thuần hóa khoảng vài ngàn cây cỏ mà chúng ta dùng ngày nay. Ngày nay, trong số nhiều ngàn đó, chỉ có khoảng vài trăm giống cây được trồng một cách nhanh chóng để cung cấp thực phẩm cho chúng ta dùng hàng ngày.


    Qua quá trình tiến hóa dần dần, tổ tiên chúng ta đã chọn một số rất nhỏ giống cây trong hàng ngàn giống và trồng trọt để cho ra hoa quả. Cách lai giống để làm cho trái cây chín nhanh hơn, làm giảm độ đắng, giảm những độc chất, gia tăng sản lượng (kể cả làm cho hoa quả lớn hơn), và ngay cả làm cho trái cây không còn hột (như chuối ngày xưa và dưa hấu ngày nay). Những cải tiến này làm cho hoa quả càng ngày càng hoàn thiện hơn, và dần dần xóa bỏ những “dấu vết” của loại cây hoang dại.


    Phần lớn những vụ mùa cung cấp thực phẩm cho chúng ta từng được thu hoạch và phát triển từ thời đại Đồ Đá, thường thường từ một số nhỏ cây cỏ. Từ một số cây “nguyên thủy” này, tổ tiên chúng ta đã chế biến nên nhiều giống khác cho nhiều môi trường khác nhau. Chỉ riêng bắp, chúng ta đã có đến ít nhất là 10 loại, như bỏng ngô, ngô ngọt, ngô mẻ, ngô đậu chổi, v.v. Văn hóa và văn minh mang tính lan truyền. Ngày nay, chúng ta thấy Mĩ là nước sản xuất hàng đầu về bắp và đậu nành, dù các cây này có nguồn gốc từ Mễ Tây Cơ và Tàu. Cây cà phê có nguồn gốc từ Ethiopia, nhưng ngày nay phần lớn cà phê được sản xuất ở Châu Mĩ La-tinh và Việt Nam. Cam Florida có nguồn gốc từ Ấn Độ, và mía thì đến từ Papua New Guinea.


    Khởi đầu từ nghiên cứu của Gregor Mendel trong việc gây giống đậu Hà Lan, kiến thức về di truyền học đã giúp phát triển vụ mùa với năng suất cao. Ba thập niên trước đây, nhiều nhà khoa học nông nghiệp nhận thấy công nghệ DNA là một phương tiện quan trọng để làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đồng thời duy trì sự phát triển lâu dài. Theo sau đó là những thành công trong việc thay đổi gen và chuyển gen trong thực vật làm cho việc ứng dụng công nghệ DNA vào nông nghiệp không còn là một giấc mơ mà hoàn toàn có thể tiến hành được. Và đối với người trồng trọt, công nghệ mới là một công cụ mới có thể bổ sung vào các công cụ mà họ đang có.


    Nông dân đã là những người cách tân trong công nghệ sinh học. Họ là những người đi tiên phong trong việc sáng tạo ra những giống cây trồng, kể cả lúa, trước hết. Qua thời gian, nông dân hoàn thiện nhiều giống cây trồng mà chúng ta tiêu thụ ngày nay. Những cách tân đó chẳng những đem lại hiệu quả và năng suất cao mà còn bảo vệ mùa màng và làm giảm sự phụ thuộc vào hóa chất. Theo thống kê thì công nghệ sinh học đang được ứng dụng trên khoảng 110 triệu mẫu trồng trọt trong 12 quốc gia trên thế giới. Thực phẩm sản xuất từ các nông sản dùng công nghệ sinh học có thể lên đến con số hàng vạn trên toàn cầu.


    Ở Mĩ và Canada, nơi mà phát triển và ứng dụng khoa học được xem là chuyên sâu, một người nông dân ngày nay có thể sản xuất đủ sản lượng để nuôi 150 người. Đối với những sản phẩm liên quan nhiều đến thành quả của công nghệ sinh học như như bắp, lúa mì, và gạo, năng suất tăng gấp 3 thậm chí 5 lần so với trước đây. Chẳng hạn như năng suất nông dân trồng bắp ở Mĩ chỉ có thể thu hoạch khoảng 26 giạ bắp trên mỗi mẫu vào năm 1928, nhưng ngày nay năng suất đó là 134 giạ. Hay như ở Việt Nam, năng suất lúa tăng gần hai lần chỉ trong vòng 20 năm qua cải tiến về công nghệ trồng trọt.


    Trong nông nghiệp GMO đầu tiên được thực hiện vào năm 1972, tức là 45 năm về trước. Đến năm 2004, trên thế giới có hơn 8 triệu nông dân trên 17 nước trồng 81 triệu ha với nông sản biến đổi gen. Gần Việt Nam là Thái Lan, Phi Luật Tân, Tàu cũng đã trồng hàng trăm ngàn hoặc hàng triệu ha bắp GMO.


    Một số thực phẩm đến với chúng ta trong thời gian gần đây cũng được du nhập hay thuần hóa, chứ cũng chẳng phải nguyên thủy. Cây lí gai nguyên là một loại cây hoang không ăn được mọc ở Tàu. Nhưng qua quá trình thuần hóa và gây giống, ngày nay nó là một món ăn ngon miệng, và được đặt tên mới là “cây Kiwi” ở Tân Tây Lan sau khi nó được du nhập vào đây vào cuối thế kỉ 19 hay đầu thế kỉ 20. Cây dâu là một sản phẩm của một sự lai giống [hoàn toàn tình cờ] giữa hai loài cây hoang từ Virginia ở Mĩ và Chile ở Pháp vào thế kỉ 18.

    Hạt cải dầu (rapeseed) từng được trồng ở Ấn Độ qua nhiều thế kỉ, gần đây được gây giống để loại bỏ những thành phần độc hại (axít erucic) và xóa mùi để cho ra cây Canola dùng để làm dầu ăn.Triticale, một loại cây hoàn toàn mới, được tạo ra bằng cách phối hợp cây lúa mì và lúa mạch đen vào khoảng hai ba thập niên trước đây.Ngày nay, cây này được trồng trên hơn 3 triệu ha trên thế giới. Bánh mì mà người Tây phương dùng hàng ngày cũng là một sản phẩm của quá trình tiến hóa từ khoảng 4000 năm về trước qua lai giống cây lúa mì tetraploid với cỏ dê (loại cỏ không ăn được).


    Nói về thực phẩm biến gen thì rất nhiều, và những ví dụ trên chỉ là tiêu biểu. Vấn đề không phải là chúng ta có nên thay đổi gen trong cây cỏ hay không, bởi vì chúng ta đã từng làm như thế hàng ngàn năm trước đây khi cây trồng được thuần hóa để dùng làm thực phẩm. Thay vì đánh giá một cách đơn giản cái phương tiện chúng ta dùng để thay đổi gen, chúng ta cần phải suy nghĩ cách làm cho sản lượng trồng trọt cao hơn và phẩm chất tốt hơn.


    Thực phẩm biến đổi gen và sức khỏe


    Hiện nay, có khá nhiều thông tin từ mạng cho rằng thực phẩm biến đổi gen là có hại cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, đó là những nguồn thông tin phi chính thống, và họ dùng ngôn ngữ rất cảm tính. Trong thực tế, cho đến nay, chưa có một chứng cứ nào cho thấy thực phẩm biến đổi gen là có hại cho sức khỏe con người (3-4). Ngược lại, nhờ biến đổi gen mà thế giới có nguồn thực phẩm để nuôi hơn 4 tỉ con người. Ở Mĩ có cơ quan FDA đã từng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lí thực phẩm và qua thời gian, cơ quan này đã được sự ủng hộ của công chúng. Có lẽ vì thế mà mức độ mà công chúng Mĩ chấp nhận thực phẩm biến gen cao hơn công chúng ở các nước Âu châu.


    Một trong những quan tâm là gen từ thực phẩm biến đổi gen có truyền sang con người? Vài trang web chống thực phẩm biến đổi gen cho rằng gen từ những thực phẩm này truyền sang con người, thậm chí họ còn dùng chữ “confirmed” (5). Nhưng trong thực tế, cho đến nay vẫn chưa có bất cứ một chứng cứ khoa học nào cho thấy khi chúng ta ăn thực phẩm, kể cả thực phẩm biến đổi gen, thì gen của các thực phẩm này “chạy” sang chúng ta. Bài báo (6) mà website đó thổi phồng cũng không kết luận như thế. Đã có nghiên cứu nghiêm chỉnh (7) kết luận rằng chẳng có gen nào từ thực phẩm sang người cả.

    Nhưng tiện đây cũng nên nói thêm rằng cơ thể chúng ta tiếp nhận ít nhất 145 gen từ các vi sinh vật khác (8). Các vi sinh vật này là vi trùng và các loại chỉ có 1 tế bào (đơn bào). Không ai hay ít ai chú ý đến sự thật này, mà lại lo ngại chuyện gen từ thực phẩm biến đổi gen truyền sang chúng ta!


    Thực phẩm biến đổi gen gây ung thư?


    Một trong những quan tâm lớn nhất về ảnh hưởng của thực phẩm biến đổi gen là ung thư. Ung thư là bệnh dễ gây cảm tính nhất, vì ai cũng sợ ung thư. Nhưng ít ai biết rằng chúng ta chết nhiều vì bệnh tim mạch hơn là chết vì ung thư. Nếu ai đã từng đến bệnh viện và thấy tận cảnh lâm sàng các bệnh như Alzheimer hay bệnh tâm thần thì có lẽ nhiều người sẽ thấy ngoài ung thư còn nhiều bệnh khác nguy hiểm hơn nữa. Nếu người ta biết rằng gãy xương làm tăng nguy cơ tử vong gấp 2-3 lần so với các bệnh khác thì người ta sẽ phải suy nghĩ về vai trò của vitamin D, sữa và calcium đúng hơn.


    Mối liên hệ giữa thực phẩm biến đổi gen và ung thư đã từng được nghiên cứu trên chuột, nhưng kết quả thì gây ra rất nhiều tranh cãi. Một nghiên cứu rất rình rang vài năm trước cho rằng cho chuột ăn bắp biến đổi gen làm cho chúng có nguy cơ bị ung thư cao (9). Nếu đúng thì đây là bằng chứng khoa học đầu tiên cho thấy thực phẩm biến đổi gen là nguy hiểm. Nhưng sau này giới khoa học phát hiện nhiều sai sót trong nghiên cứu đó và tác giả phải rút lại bài báo.


    Công trình nghiên cứu đó do Tiến sĩ Gilles Seralini và đồng nghiệp bên Pháp thực hiện, và công bố trên Tập san Food and Chemical Toxicology vào năm 2012 (9). Tập san này cũng thuộc loại khá, nhưng chưa phải là hạng “top” trong y khoa. Công trình nghiên cứu thí nghiệm trên chuột giống Sprague-Dawley bằng cách cho chúng ăn bắp biến đổi gen. Họ chia làm 4 nhóm: nhóm 1 không có ăn bắp biến đổi gen (nhóm chứng); nhóm 2, 3 và 4 lần lược cho ăn ăn bắp biến đổi gen ở mức độ 11, 22 và 33%. Thật ra, còn có một nhóm khác cho ăn bắp biến đổi gen và glyphosate. Tác giả kết luận hơi khó đọc, nhưng tôi tóm lược để các bạn nắm cái thông điệp chính rằng chuột cho ăn bắp biến đổi gen bị rối loạn về gan và thận (10).


    Lập tức sau khi bài báo công bố là hàng loạt lá thư của các nhà khoa học phê bình nghiên cứu này. Nghiên cứu có quá nhiều sai sót. Từ cách thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu, và quan trọng nhất là cách họ xác định ung thư đều có vấn đề nghiêm trọng. Những vấn đề chính được liệt kê là (11-12):


    • cỡ mẫu quá thấp, kết quả chẳng có ý nghĩa gì;

    • cách chọn chuột (có nguy cơ ung thư cao) cho thí nghiệm có vấn đề;

    • sai lầm trong phân tích dữ liệu;

    • thiếu chi tiết về thí nghiệm;

    • không công bố dữ liệu;

    • phân tích pathology sai;

    • đối xử với chuột vi phạm y đức;

    • bàn luận một chiều.


    Nhiều người chỉ ra rằng cỡ mẫu quá nhỏ và tác giả cố tình không dùng đúng phương pháp so sánh, làm cho kết quả rất khó diễn giải. Điều buồn cười nhất là tác giả có lẽ do không phải là dân y nên không phân biệt được “tunour” và “cancer”. Cục An toàn thực phẩm Âu châu phải ra thông báo cho rằng cách thiết kế nghiên cứu, báo cáo và phân tích dữ liệu trong bài báo là có vấn đề, và do đó, kết luận của tác giả không thể xem là hợp lí (11). Đây cũng là một bài học hay về thiết kế thí nghiệm và phân tích dữ liệu, và bài học về thiếu kiến thức y khoa dẫn đến diễn giải sai.


    Với những sai sót và sai lầm đó, tập san Food and Chemical Toxicology phải rút bài báo xuống. Nhưng điều thú vị là câu chuyện không dừng ở đó. Năm 2014, Tập san Environmental Sciences Europe công bố một phiên bản mới của bài báo đã bị rút xuống! Đây là một việc làm rất bất thường trong khoa học, bởi vì thường khi một bài báo đã bị rút xuống thì không bao giờ được công bố chỗ khác. Do đó, giới khoa học đặt vấn đề đạo đức khoa học với Tập san Environmental Sciences Europe (13). Lạ lùng hơn là bài báo không qua bình duyệt! Tập san này có tiếng là chống thực phẩm biến đổi gen. Bài này có kết luận nhẹ hơn, cho rằng cần phải nghiên cứu tiếp chứ chưa dám nói là có liên quan (13):


    Our findings imply that long-term (2 year) feeding trials need to be conducted to thoroughly evaluate the safety of GM foods and pesticides in their full commercial formulations.”


    Tuy nhiên, một giáo sư thống kê học lừng danh là David Spiegelhalter đã xem bài báo mới và ông kết luận rằng bài báo vẫn còn có sai sót về phân tích thống kê làm cho kết luận của tác giả đáng ngờ (14). Nhưng những người ủng hộ Seralini thì cho rằng bản mới của bài báo là rất tốt.


    Một trong những quan tâm trong nghiên cứu trên là glyphosate có thể gây ung thư. Nhưng thật ra, chưa đủ bằng chứng để nói glyphosate gây ung thư. Đó là tuyên bố của cục kiểm soát hóa chất Âu châu (15).


    Điều quan trọng nhất trong bài báo này là nghiên cứu trên chuột. Những phát hiện trên chuột rất khó có thể suy luận cho người. Những gì chúng ta quan sát trên chuột thường chẳng có liên quan gì với người. Do đó, khi báo chí suy diễn kết quả này và cho rằng ăn uống thực phẩm biến đổi gen tăng nguy cơ ung thư ở người là một sai lầm hết sức nghiêm trọng. Trong thực tế, cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào cho thấy thực phẩm biến đổi gen có liên quan đến nguy cơ ung thư ở con người.


    Các hiệp hội khoa học quốc tế nói gì về GMO?


    Một số người đưa ra những website có xu hướng cảm tính và chống thực phẩm biến đổi gen và GMO. Nhưng rất tiếc đó không phải là những tổ chức chính thống. Khi nói "chính thống" tôi không có ý như ở Việt Nam (là phải thuộc Nhà nước hay đảng), mà là các tổ chức khoa học bất vụ lợi được cộng đồng khoa học công nhận. Ví dụ như Viện hàn lâm khoa học Mĩ, như Hiệp hội y khoa Mĩ (AMA), Tổ chức Y tế Thế giới, v.v. Dưới đây (17-23), tôi thu thập nhận định của các tổ chức khoa học và y khoa về GMO.


    Tôi không dịch lại những nhận định, nhưng tôi có thể tóm lược như sau. Tất cả các tổ chức này đều cho rằng GMO nói chung là an toàn, và chưa có chứng cứ khoa học gì để nói chúng có hại cho sức khoẻ con người. Tất cả những nhận định này là dựa trên chứng cứ khoa học và cân bằng giữa lợi ích và tác động môi trường, xã hội. Đó không phải là ý kiến cá nhân của bất cứ ai, mà là của một tập thể gồm những nhà khoa học, xã hội học, đạo đức học, môi trường học thuộc hạng hàng đầu thế giới. Tôi không nghĩ họ bị mấy công ti kĩ nghệ mua chuộc, mà họ chỉ nói lên những gì có chứng cứ khoa học.


    Tôi nghĩ Viện hàn lâm khoa học Việt Nam hay Bộ Y tế hay một cơ quan hữu trách cũng nên ra một nhận định như thế này để công chúng biết đâu là sự thật và đâu là thông tin nhiễu.


    ***


    Tóm lại, thực phẩm biến đổi gen là một phát triển mang tính tất yếu của khoa học và sự sống của con người. Tổ tiên chúng ta đã từng biến đổi gen để tạo ra một số cây trồng đem lại nguồn sống cho con người. Với sức ép của dân số và lương thực, cùng với phát triển của khoa học, chúng ta ngày nay có thể tạo ra những thực vật và động vật với năng suất cao hơn và đa phần là an toàn hơn so với trước đây.


    Nhưng không phải ai cũng chào đón thực phẩm biến đổi gen, và điều này cũng dễ hiểu. Trong khi thực phẩm biến đổi gen khá phổ biến ở Mĩ và Úc, thì ở Âu châu, các nước như Pháp, Đức, Hungary và vài nước nhỏ khác không cho bày bán thực phẩm biến đổi gen. Nhưng Tây Ban Nha và vài nước khác (như Czech, Slovakia, Bồ Đào Nha, Romania) là nguồn sản xuất và phân phối thực phẩm biến đổi gen. Bất cứ thời đại nào cũng có những người cấp tiến và những người bảo thủ. Người cấp tiến thì sẵn sàng thay đổi, làm cách mạng.  Còn người bảo thủ thì khư khư ôm lấy những lề lối sống và cách làm việc cũ, những lề lối mà họ cảm thấy họ có thể kiểm soát được sự hiểm nguy. Bởi vì lương thực là một yếu tố quan trọng nhất cho sự tồn tại của con người, cho nên những thay đổi về phương cách sản xuất thực phẩm thường xảy ra một cách chậm chạp và thường gặp nhiều phản đối.


    Ở Việt Nam, một số người giàu có cũng tỏ ra rất quan tâm đến thực phẩm đổi gen. Những người này thường chọn lọc những thông tin từ các nguồn phi chính thống và phi khoa học để nói rằng thực phẩm biến gen là nguy hiểm cho sức khỏe, đặc biệt là ung thư. Nhưng sự thật là Việt Nam là một nước còn nghèo, dân còn đói, đất thì ít và teo hẹp lại hàng năm, đáng lí ra nhu cầu về nghiên cứu thực phẩm biến gen phải là mối quan tâm hàng đầu. Thật vậy, đáng lí ra Việt Nam chúng ta phải là nơi đi tiên phong về công nghệ gen (hay biến đổi gen) trong nông nghiệp. Trong thực tế cũng có nhiều nhà khoa học làm việc này, nhưng thành tựu của họ thì ít khi nào được biết đến, vì họ bị lấn át bởi những tiếng nói của người nhà giàu về “thực phẩm biến đổi gen” là có hại! Trong khi một số người, có lẽ là thuộc giới nhà giàu, đang lo sợ thực phẩm biến đổi gen gây tác hại đến họ, thì thế giới phương Tây đã ứng dụng công nghệ biến đổi gen để làm cho nước của họ giàu có hơn và thống trị nguồn thực phẩm cho cả thế giới.


    Xem ra nông dân Việt Nam cũng có vẻ hài lòng với GMO. Bài báo này (16) tường thuật về anh nông dân tên Đua nói rằng "Ngót 20 năm gắn bó với nghiệp sản xuất giống ông Đua bảo chưa bao giờ thấy việc canh tác lại đơn giản, nhẹ nhàng như bây giờ bởi không phải phun thuốc sâu. Đối với sản xuất ngô giống thông thường, phun thuốc sâu là nỗi ám ảnh đối với bà con nông dân bởi phải dùng 6-8 lần. Ngơi tay phun thuốc cái là sâu ăn cụt cả râu, lòi cả bắp, thất thu ngay. Giờ vạch lá, tìm mãi mà chẳng có nổi một con sâu nên tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và sức khỏe để thỉnh thoảng lại gầy một cuộc nhậu chơi."


    Nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải tìm hiểu và nghiên cứu về thực phẩm biến đổi gen. Trong khi chúng ta có thể tạm thời an tâm rằng thực phẩm biến đổi gen là khá an toàn, nhưng những vấn đề liên quan đến đạo đức, xã hội, môi trường, chủ quyền sản phẩm, v.v. vẫn còn chưa ngã ngũ. Những vấn đề này đòi hỏi phải có sự phân tích thấu đáo và xem xét ở nhiều góc cạnh. Tuy nhiên, nếu Việt Nam không chủ động nghiên cứu GMO thì rất dễ bị lệ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài.


    Việc biến đổi gen đã diễn ra trong phòng labo và ứng dụng trong điều trị lâm sàng rất lâu. Ít ai biết rằng insulin là một sinh phẩm biến đổi gen, vì người ta lấy gen từ ruột heo cấy vào vi trùng để sản xuất ra insulin. Các thyroid hormone cũng là chiết xuất từ động vật và cấy vào vi trùng. Tương tự, thuốc đều trị viêm gan cũng là sinh phẩm biến đổi gen. Cũng ít ai biết rằng thực phẩm biến đổi gen đang là đề tài nghiên cứu để phòng chống các vi khuẩn nguy hiểm như Zika, Ebola. Thực phẩm biến đổi gen đang trở thành một loại “thuốc”. Tất cả các vaccines mà y khoa dùng để chống Zika, Ebola, và cảm cúm nữa, đều được thiết kế bằng cách thay đổi cấu trúc gen, và nguyên lí đó cũng chính là nguyên lí của thực phẩm biến đổi gen. Có lẽ chúng ta phải nhìn nhận rằng con người và mùa vụ gắn bó một cách chặt chẽ với nhau, và nếu chúng ta hiểu được nền nông nghiệp trong quá khứ thì chúng ta cũng có thể đối phó với những mối quan tâm hiện nay về những tham vọng khoa học kĩ thuật trong việc sản xuất lương thực.


    Nguồn tham khảo:




    (3) Touyz, L. Z. G. (2013). Genetically modified foods, cancer, and diet: myths and reality. Current Oncology, 20(2), e59.


    (4) Bawa, A. S., & Anilakumar, K. R. (2013). Genetically modified foods: safety, risks and public concerns—a review. Journal of food science and technology, 50(6), 1035-1046.


    (5) Arjun Walia (2014). Confirmed: DNA from genetically modified crops can be transferred into humans who eat them. Collective-Evolution.com. Truy cập ngày 14 May 2017.


    (6) Spisák, S., Solymosi, N., Ittzés, P., Bodor, A., Kondor, D., Vattay, G., … & Szállási, Z. (2013). Complete genes may pass from food to human blood. PLoS One, 8(7), e69805.


    (7) Keese, P. (2008). Risks from GMOs due to horizontal gene transfer. EnvironmentalBiosafety Research, 7(3), 123-149.


    (8) Williams, S. C. (2015). Humans May Harbour More than 100 Genes from Other Organisms. Sciencemag.orgMar. 12, 2015.


    (9) Séralini, G. E., Clair, E., Mesnage, R., Gress, S., Defarge, N., Malatesta, M., … & De Vendômois, J. S. (2012). RETRACTED: Long term toxicity of a Roundup herbicide and a Roundup-tolerant genetically modified maize. Food and chemical toxicology,50(11), 4221-4231.


    (10) Nguyên văn kết luận: “The results of the study presented here clearly demonstrate that lower levels of complete agricultural glyphosate herbicide formulations, at concentrations well below officially set safety limits, induce severe hormone-dependent mammary, hepatic and kidney disturbances. Similarly, disruption of biosynthetic pathways that may result from overexpression of the EPSPS transgene in the GM NK603 maize can give rise to comparable pathologies that may be linked to abnormal or unbalanced phenolic acids metabolites, or related compounds. Other mutagenic and metabolic effects of the edible GMO cannot be excluded


    (11) Butler, D. (2012). Hyped GM maize study faces growing scrutiny. Nature,490(7419), 158.


    (12) Resnik RB. Retracting Inconclusive Research: Lessons from the Séralini GM Maize Feeding Study. J Agric Environ Ethics. 2015 Aug; 28(4): 621–633.


    (13) Séralini GE, Clair E, Mesnage R, Gress S, Defarge N, Malatesta M, et al. Republished study: Long-term toxicity of a Roundup herbicide and a Roundup-tolerant genetically modified maize. Environmental Sciences Europe. 2014a;26:14.


    (14) Casassus, B. (2014). Paper claiming GM link tumours republished. Nature News,6(24), 1.


    (15) ECHA (2017). Glyphosate not classified as a carcinogen by ECHA.



    (17) American Association for the Advancement of Science (Hiệp hội này là nhà xuất bản của tạp chí lừng danh Science): “The science is quite clear: crop improvement by the modern molecular techniques of biotechnology is safe.” (AAAS Board Statement on Labeling of Genetically Modified Foods, 2012) (1).


    (18) American Medical Association (Hiệp hội Y khoa Hoa Kì, xuất bản tập san JAMA, hàng số 1 trên thế giới): “Our AMA recognizes that there is no evidence that unique hazards exist either in the use of rDNA (GE) techniques or in the movement of genes between unrelated organisms.” “Bioengineered foods have been consumed for close to 20 years, and during that time, no overt consequences on human health have been reported and/or substantiated in the peer-reviewed literature.” “To date, no evidence has supported an increased degree of allergenicity of bioengineered foods compared to their nonbioengineered counterparts.” (Report of the Council on Science and Public Health, 2012)


    (19)  National Academies of Science (Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kì, xuất bản PNAS): "Genetic engineering is one of the newer technologies available to produce desired traits in plants and animals used for food, but it poses no health risks that cannot also arise from conventional breeding and other methods used to create new foods.” (Expert Consensus Report: Safety of Genetically Modified Foods, 2004)


    An analysis of the U.S. experience with genetically engineered crops shows that they offer substantial net environmental and economic benefits compared to conventional crops.” “The transfer of GE traits from GE crops to other crops or relatives has not been a concern for most non-GE crops.” "Generally, GE crops have had fewer adverse effects on the environment than non-GE crops produced conventionally.” (Impact of Genetically Engineered Crops on Farm Sustainability in the United States, 2010)  


    (20) World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới): "GM foods currently available on the international market have passed risk assessments and are not likely to present risks for human health. In addition, no effects on human health have been shown as a result of the consumption of such foods by the general population in the countries where they have been approved.” (20 questions on genetically modified foods, 2013)


    (21) European Commission (Uỷ hội Âu châu):  "The main conclusion to be drawn from the efforts of more than 130 research projects, covering a period of more than 25 years of research, and involving more than 500 independent research groups, is that biotechnology, and in particular GMOs, are no more risky than conventional plant breeding technologies.” (A decade of EU-funded GMO research, 2010).


    (22) The Royal Society (tương đương với viện hàn lâm của Anh): “A previous Royal Society report (2002) and the Government’s GM Science Review (2003/2004) assessed the possibilities of health impacts from GM crops and found no evidence of harm. Since then no significant new evidence has appeared. There is therefore no reason to suspect that the process of genetic modification of crops should per se present new allergic or toxic reactions…. Global food insecurity is the product of a set of interrelated local problems of food production and consumption. The diversity of these problems needs to be reflected in the diversity of scientific approaches used to tackle them.” (Reaping the benefits: Science and the sustainable intensification of global agriculture, 2009)


    (23) International Science Academies: Joint Statement (including the Brazilian Academy of Sciences, the Chinese Academy of Sciences, the Indian National Science Academy, the Mexican Academy of Sciences and the Third World Academy of Sciences):GM technology has shown its potential to address micronutrient deficiencies [in developing nations]. These nutritional improvements have rarely been achieved previously by traditional methods of plant breeding.” “GM technology, coupled with important developments in other areas, should be used to increase the production of main food staples, improve the efficiency of production, reduce the environmental impact of agriculture, and provide access to food for small-scale farmers.” “Decisions regarding safety should be based on the nature of the product, rather than on the method by which it was modified. It is important to bear in mind that many of the crop plants we use contain natural toxins and allergens.” (Transgenic Plants and World Agriculture, 2000).


  • Sữa, calcium, và loãng xương

    Posted on: 18 May 2017, 4:08 am

    Mối liên hệ giữa sữa, calcium và loãng xương lại trở thành một vấn đề thời sự. Một chị bạn chuyền cho tôi xem một bài báo tiếng Việt [mà tôi cũng đã xem qua trước đây] nói rằng uống sữa có hại cho xương. Bài báo đó, cũng như bao nhiêu bài báo viết về khoa học ở VN, trích dẫn một cách có chọn lọc từ những bài báo phổ thông ở nước ngoài, và có vài thông tin chưa đầy đủ. Nói một cách ngắn gọn: người Việt chúng ta cần calcium để xây dựng bộ xương chắc, dẻo và khoẻ mạnh.




     

    Vấn đề


    The countries with the highest rates of osteoporosis are the ones where people drink the most milk and have the most calcium in their diets. The connection between calcium consumption and bone health is actually very weak, and the connection between dairy consumption and bone health is almost nonexistent” (1).


    Trên đây là một trích đoạn từ một website mệnh danh là "Cứu xương của chúng ta" (saveourbones). Nhưng các bạn chú ý thấy đoạn văn trên vừa mang tính cường điệu, vừa ngụy biện, rất ư là phản khoa học. Câu văn cho rằng mối liên quan giữa tiêu thụ sữa và sức khoẻ của xương gần như không hiện hữu là không đúng và quá "simplistic". Còn câu văn cho rằng những nước nào mà người dân uống sữa nhiều nhất là những nước bị loãng xương cao nhất (hàm ý nói rằng uống sữa nhiều là nguyên nhân của loãng xương) là một nguỵ biện dạng "ecologic fallacy". Thật ra, toàn bộ nội dung của trang web là những thông tin "chống sữa", với những ngôn từ rất cảm tính, có khi hằn học. Do đó, một người đọc bình tĩnh và có suy nghĩ có thể đoán đây là một "thế lực" có agenda đằng sau nhằm xuyên tạc ảnh hưởng của sữa và calcium đến sức khoẻ.


    Thật ra, vấn đề không phải là sữa và loãng xương; vấn đề là calcium và loãng xương. Câu hỏi đặt ra là calcium có lợi hay hại cho xương. Đã từ lâu, calcium được xem là một chất khoáng rất có lợi cho xương (sẽ giải thích dưới đây), nhưng vài năm gần đây có một vài công bố khoa học cho rằng calcium chẳng những không có lợi cho xương, mà còn có hại cho tim. Từ những công bố này, báo chí đại chúng diễn giải lại và gây lẫn lộn trong công chúng về lợi ích và tác hại (nếu có) của calcium. Bài này sẽ giải thích tại sao những gì các nước phương Tây đang tranh cãi về calcium chẳng có liên quan gì đến người Việt chúng ta.


    Calcium và sức khỏe xương


    Sự thật về mối liên hệ giữa sữa, calcium và xương ra sao? Để trả lời câu hỏi này, tôi phải điểm qua vài thông tin rất cơ bản [mà có lẽ đa số các bạn cũng đã biết] và đặt thông tin trong bối cảnh để thấy tầm quan trọng của calcium đối với bộ xương chúng ta. Tôi sẽ đánh số những đoạn văn để các bạn dễ theo dõi trong khi đề cập đến những thực tế trong phần sau của cái note này.


    1.  Calcium là một chất khoáng rất cần thiết không chỉ cho xương mà còn cho các cơ phận khác. Chúng ta cần calcium để xây dựng bộ xương lúc còn trẻ và duy trì bộ xương lúc về già. Chúng ta cần calcium để chuyển tải các tín hiệu thần kinh và kiểm soát nhịp đập của tim và cơ bắp. Ngoài ra, cơ thể chúng ta cần calcium để cùng với vitamin D và fibronogen giúp đông máu. Do đó, cơ thể chúng ta mà thiếu calcium là rất nguy hiểm, không chỉ cho xương mà còn cho sự sống còn.


    2.  Xương chúng ta được cấu thành từ khoáng chất calcium và chất keo (collagen). Khoảng 60% trọng lượng của xương là do calcium, và phần lớn còn lại la collagen và nước. Có hai loại calcium trong xương là calcium phosphate và calcium carbonate. Calcium giúp cho xương chúng ta chắc. Chất keo giúp cho xương dẻo dai.


    3.  Xương là "ngân hàng" của calcium. Khoảng 99% hàm lượng calcium trong cơ thể chúng ta nằm trong xương và răng. Cũng có thể ví von rằng xương là một "nhà kho" chứa calcium. Còn 1% còn lại là lưu hành trong máu. Chúng ta không thể nào sống sót mà thiếu 1% đó!


    4.  Nồng độ calcium trong máu dao động rất thấp, chỉ khoảng 8.5 đến 10 mg/dL, nhưng nếu nồng độ này suy giảm chỉ một chút thôi là chúng ta … rất mệt và chết như bỡn. Khi nồng độ calcium trong máu suy giảm một số triệu chứng sẽ xuất hiện như móng tay dễ bị gãy, co giãn cơ bắp bị suy giảm, hay tê tay tê chân, mất trí nhớ, và ảo giác.


    5.  Vì vai trò quan trọng của calcium, nên tất cả các hiệp hội về nội tiết, loãng xương, khớp, v.v. đều khuyến cáo mỗi ngày chúng ta nên tiếp thu khoảng 1000 mg calcium. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trung bình mỗi ngày người Việt chỉ tiếp thu khoảng 300-400 mg calcium mà thôi, và đó là một liều lượng quá thấp so với nhu cầu cơ thể chúng ta cần.


    6. Chúng ta tiếp thu calcium chủ yếu từ hai nguồn: thực phẩm và bổ sung. Thực phẩm giàu chất calcium bao gồm sữa, rau xanh và đậu. Bổ sung calcium có thể mua từ các tiệm dược phẩm. Sữa là thực phẩm có hàm lượng calcium lớn nhất. Tính chung, cứ 200 ml sữa bò thì tương đương với 240 mg calcium; 200 ml yoghurt thì bằng 260 mg calcium; 200 ml sữa đậu nành tương đương với 210 mg calcium.


    Calcium phải đi chung với vitamin D


    Đó là những thông tin cơ bản, bây giờ tôi sẽ nói thêm về cơ chế và những mối tương tác giữa calcium, vitamin D, và một loại hormone quan trọng có tên là PTH. Khi nồng độ calcium trong máu bị giảm thì cả một hệ thống nội tiết được kích hoạt. Đầu tiên là tuyến cận giáp tiết ra hormone cận giáp (PTH); PTH kích thích tế bào huỷ xương osteoclasts để lấy calcium từ xương và thải ra hệ thống tuần hoàn. Do đó, khi PTH tăng trong máu thì đó là tín hiệu cơ thể cần calcium và mật độ xương đang suy giảm. Điều này cũng có nghĩa là nếu chúng ta không ăn uống đủ calcium và nếu cơ thể không hấp thu tốt thì chúng ta sẽ mất xương.


    Hấp thu calcium cần đến một hormone khác: vitamin D. Chúng ta sản xuất vitamin D từ da và thận, nhưng nguồn vitamin D chính vẫn là ánh nắng mặt trời. Khi da chúng ta tiếp xúc ánh nắng mặt trời, vitamin D sẽ qua hai giai đoạn chuyển hóa. Lần thứ nhất là qua gan để thành 25OHD (không active), và lần thứ hai qua thận thành1-25OHD (active). Chính 1-25OHD giúp hấp thu calcium. Tất cả sự tương tác giữa PTH, 1,25D, và tế bào huỷ xương hoạt động nhịp nhàng với nhau và liên tục để đảm bảo cơ thể chúng ta có đủ nồng độ calcium trong máu. Khi hệ thống này bị rối loạn, chúng ta sẽ mắc chứng cường cận giáp (PTH quá cao), hoặc suy cận giáp (PTH quá thấp), hoặc nhuyễn xương (osteomalacia), hoặc loãng xương (osteoporosis).


    Những lí giải trên chỉ để nói lên một ý rất quan trọng rằng calcium phải "song hành" cùng vitamin D. Chúng ta có thể ăn uống giàu chất calcium, hay có thể bổ sung calcium, nhưng nếu thiếu vitamin D thì ... cũng như không, vì calcium sẽ bài tiết ra đường nước tiểu hết. Điều này cũng có nghĩa là nếu nghiên cứu khoa học mà chỉ xem xét đến calcium, hay chỉ xem xét vitamin D là sai lầm nghiêm trọng. Trong quá khứ đã có nhiều sai lầm như thế vì người ta (nhà khoa học) quên cái cơ chế sinh học của calcium và vitmin D. Một nghiên cứu khoa học chỉ có ý nghĩa khi xem xét cả hai calcium và vitamin D.


    Chứng cứ về calcium và vitamin D đến xương


    Trong quá khứ đã có rất nhiều nghiên cứu về tác động của calcium và vitamin D đến sức khỏe xương, nhưng kết quả rất khác nhau. Có nghiên cứu cho thấy calcium và vitamin D có lợi, nhưng cũng có nghiên cứu cho thấy calcium và vitamin D không có liên quan gì đến loãng xương. Lí do cho những khác biệt này thì nhiều, nhưng chủ yếu là do thiết kế nghiên cứu. Nói chung, nghiên cứu quan sát thì không có giá trị khoa học bằng nghiên cứu can thiệp dạng RCT (tức nghiên cứu lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên). Một dạng nghiên cứu khác là phân tích tổng hợp (meta-analysis), tức là tổng hợp tất cả các nghiên cứu RCT để cho ra một kết quả chung, vì mỗi riêng cứu đơn lẻ có thể không đủ cỡ mẫu để kết luận.


    Nhưng trong y văn, không phải thông tin nào cũng có giá trị như nhau, mà chúng ta phải biết chọn lọc thông tin. Chỉ có những nghiên cứu công bố trên các tập san chính thống và có impact factor cao mới đáng tin cậy. Đó là những tập san JAMA, BMJ, NEJM, American Journal of Clinical Nutrition, Journal of Bone and Mineral Research, Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, Osteoporosis International, Bone. Còn những tập san có impact factor thấp hay "ngoại đạo" (như Bone Research của Tàu) thì không được đánh giá cao. Ngoài ra, còn phải xem xét tác giả là ai, xuất phát từ labo nghiên cứu nào trên thế giới. Những phân tích tổng hợp từ Tàu thì phải dè chừng vì họ làm chưa chắc tốt; chỉ có những nhóm nghiên cứu trong "bộ lạc" thì mới đáng quan tâm.


    Dựa trên những tiêu chuẩn trên, chúng ta thử điểm qua vài phân tích tổng hợp trên các tập san quan trọng:


    (a) Sữa và gãy xương.


    Như đề cập trên, sữa là nguồn calcium quan trọng, và được khuyến khích sử dụng hàng ngày ở các nước phương Tây. Các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu của 6 nghiên cứu đoàn hệ (2). Kết quả cho thấy ở nữ, không có mối liên quan giữa tiêu thụ sữa và nguy cơ gãy cổ xương đùi (tỉ số nguy cơ 0.99; khoảng tin cậy 95% từ 0.96 đến 1.02). Ở nam giới, người uống sữa có nguy cơ gãy cổ xương đùi giảm 9%, nhưng dao động 95% cho thấy sữa có thể giảm nguy cơ 19 đến tăng 1%. Các tác giả kết luận rằng chưa có chứng cứ để kết luận uống sữa làm giảm nguy cơ gãy xương đùi, nhưng ở nam giới thì cần có thêm dữ liệu. Cái khiếm khuyết lớn nhất của nghiên cứu này là không có vitamin D. Và, đây chỉ là những nghiên cứu đoàn hệ, chứ không phải là loại can thiệp RCT.


    (b) Calcium và mật độ xương (BMD).


    BMD là một chỉ số lâm sàng rất quan trọng cho xương. Người có BMD càng cao thì xương càng chắc. Một phân tích tổng hợp công bố trên BMJ vào năm 2015 (3), tổng hợp 59 công trình nghiên cứu RCT để nhằm trả lời câu hỏi là bổ sung calcium, kể cả uống sữa, có lợi cho mật độ xương hay không. Kết quả cho thấy BMD ở nhóm với bổ sung calcium qua đường thức ăn có BMD cao hơn nhóm chứng từ 0.6 đến 1%. Ngoài ra, các tác giả còn phát hiện bổ sung calcium (qua viên thuốc) tăng BMD 0.7 đến 1.8%.


    Điều thú vị là tác giả kết luận rằng tăng calcium qua nguồn thực phẩm chỉ làm tăng một chút xíu BMD và có thể chẳng dẫn đến giảm gãy xương! ("Increasing calcium intake from dietary sources or by taking calcium supplements produces small non-progressive increases in BMD, which are unlikely to lead to a clinically significant reduction in risk of fracture.") Theo tôi, đây là một kết luận sai lầm. Mật độ xương chỉ giảm khoảng 0.5% mỗi năm (ở người cao tuổi), do đó bổ sung calcium làm tăng đến 1% BMD có nghĩa là tương đương với 2 năm trì hoãn giảm BMD. Và, như thế thì ảnh hưởng của bổ sung calcium là tốt, chứ sao lại kết luận là chỉ "small" được. Ngoài ra, tác giả không có số liệu về gãy xương, nên suy luận về gãy xương chỉ là vỏ đoán.


    (c) Calcium và gãy xương.


    Trong loãng xương, gãy xương là một "outcome" rất quan trọng, quan trọng hơn cả BMD. Nghiên cứu này cũng là một phân tích tổng hợp trên 26 RCT (4), nhằm trả lời câu hỏi bổ sung calcium có giảm nguy cơ gãy xương hay không. Kết quả cho thấy bổ sung calcium giảm nguy cơ gãy xương 11% (hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương dao động trong khoảng 4 đến 19%); giảm nguy cơ gãy xương cột sống 14% (dao động từ 0 đến 26%). Phân tích cho nguy cơ gãy cổ xương đùi thì kết quả không có ý nghĩa thống kê.


    Thế nhưng tác giả kết luận rằng calcium qua đường thực phẩm không có liên quan với gãy xương (nguyên văn: "Dietary calcium intake is not associated with risk of fracture, and there is no clinical trial evidence that increasing calcium intake from dietary sources prevents fractures.") Nói cách khác, kết luận này của tác giả không phù hợp với dữ liệu mà họ trình bày trong phần kết quả! Rõ ràng là bổ sung calcium giảm nguy cơ gãy xương 11%, chứ không phải là "not associated".


    (d) Calcium và gãy cổ xương đùi.


    Đây là một phân tích tổng hợp nhằm trả lời câu hỏi bổ sung calcium có làm giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi? Gãy cổ xương đùi là một outcome quan trọng trong loãng xương, vì bệnh nhân chết sớm sau khi bị gãy xương. Các tác giả phân tích trên 12 nghiên cứu đoàn hệ, 5 RCT (5). Kết quả của các nghiên cứu đoàn hệ cho thấy bổ sung calcium không giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi ở nữ (tỉ số nguy cơ 1.01; 0.97-1.05) hay ở nam giới (tỉ số nguy cơ 0.92; 0.82-1.03). Phân tích trên dữ liệu RCT cho thấy bổ sung calcium giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi 8% nhưng không có ý nghĩa thống kê (tỉ số nguy cơ 0.92; 0.81 - 1.05).


    Tuy nhiên, tác giả kết luận rất ư là lệ thuộc vào thống kê. Họ viết bổ sung calcium không làm giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi ("Pooled results from randomized controlled trials show no reduction in hip fracture risk with calcium supplementation, and an increased risk is possible.") Thật ra là có giảm (8%), nhưng mức độ giảm có thể là 20% nhưng cũng có xác suất nhỏ tăng 5%. Nói cách khác, kết quả còn bất định, chưa kết luận có hay không có ảnh hưởng. Phân tích này cũng có vấn đề vì họ không xem xét đến calcium + vitamin D.


    (e) Calcium + vitamin D và gãy xương


    Như nói trên, nhiều nghiên cứu trong quá khứ phạm phải sai lầm là không xem xét calcium và vitamin D "song hành." Năm ngoái, một nghiên cứu được công bố trên tập san Osteoporosis International (6) nhằm trả lời câu hỏi là bổ sung calcium và vitamin D (viết tắt CaD) có giảm gãy xương hay không. Các tác giả phân tích dữ liệu trên 8 RCT, và kết quả cho thấy bổ sung CaD giảm nguy cơ gãy xương 15% (hiệu quả dao động trong khoảng 2 đến 27%). Ngoài ra, bổ sung CaD cũng giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi 30% (dao động 13 đến 44%).


    Những kết quả này cũng nhất quán với kết quả của chúng tôi được công bố năm ngoái trong hội nghị loãng xương quốc tế ở Atlanta. Nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng bổ sung CaD không làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch hay đột quị. Tính chung, lợi ích CaD vẫn cao hơn nhiều so với tác hại (nếu có). Nghiên cứu của chúng tôi chưa được chính thức công bố trên một tập san y khoa (đang duyệt) nhưng Tạp chí Endocrinology Advisor có đưa tin và phỏng vấn tôi vào năm ngoái (7).


    Tình hình ở Việt Nam


    Những gì tôi trình bày trên là chuyện bên Tây và chuyện khoa học. Bây giờ, tôi quay lại tình hình ở Việt Nam. Những nghiên cứu của chúng tôi và đồng nghiệp ngoài Bắc (8-9) cho thấy rất nhiều phụ nữ thiếu vitamin D. Ở Sài Gòn, gần 50% phụ nữ thiếu vitamin D, còn ở Hà Nội tỉ lệ này là 70-80%. Đó là một thực tế rất đáng ngại, vì thiếu vitamin D dẫn đến nhiều hệ quả sức khoẻ.


    Nghiên cứu của chúng tôi còn chỉ ra là đa số phụ nữ Việt Nam hấp thu rất ít calcium. Tính trung bình lượng calcium từ thực phẩm ở phụ nữ Việt Nam chỉ dao động trong khoảng 300 đế 500 mg/d (8). Như đề cập trong điểm 5 ở trên, mỗi chúng ta cần phải có calcium 1000 mg/ngày để duy trì xương chắc và bền và cho nhiều hoạt động khác của cơ thể.


    Như vậy, tình hình ở Việt Nam là đa số người dân vừa thiếu calcium vừa thiếu vitamin D. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ loãng xương ở phụ nữ Việt Nam là gần 30% (ở những người sau mãn kinh) và 10% (ở nam giới trên 50 tuổi). Thực tế này nói lên rằng những quan ngại về sữa, calcium ở Việt Nam là ... rất vô lí. Mình đã thiếu (chứ đâu phải thừa) mà sợ calcium làm hại cho xương?! Báo chí phương Tây tỏ ra quan ngại về bổ sung calcium cũng vô lí, vì bằng chứng khoa học tôi trình bày trên cho thấy bổ sung calcium, qua thực phẩm hay viên thuốc, có hiệu quả giảm nguy cơ loãng xương và giảm nguy cơ gãy xương.


    Để tóm tắt cái note này tôi sẽ trình bày theo dạng vấn đáp dưới đây:


    Hỏi: Calcium có quan trọng cho xương không?


    Đáp: Rất quan trọng, vì calcium là một khoáng chất làm nên xương và giúp cho xương chúng ta chắc.


    Hỏi: Tôi có thể "tiếp thu" calcium từ đâu?


    Đáp: Từ hai nguồn chính là thực phẩm, đặc biệt là sữa, và bổ sung qua viên thuốc. Nhưng calcium phải đi liền với vitamin D.


    Hỏi: Nghe nói bổ sung calcium không có hiệu quả giảm loãng xương mà còn tăng nguy cơ đột quị?


    Đáp: Không đúng. Bổ sung calcium và vitamin D tăng mật độ xương (làm cho xương mạnh hơn), giảm nguy cơ gãy xương. Bằng chứng về bổ sung calcium và vitamin D và đột quị là chưa thuyết phục.


    Sữa, acid, và sức khỏe


    Một trong những điểm được đồn đại trong báo chí đại chúng là các sản phẩm [chủ yếu] từ sữa như sữa tươi, phó mát (cheese), da-ua (yogurt) có hại cho sức khoẻ con người, vì những thực phẩm này làm tăng hàm lượng acid trong máu. Nhưng đây là một thông tin không có cơ sở và chứng cứ khoa học nào cả. Nói ngắn gọn: sữa bò không sản sinh ra acid và cũng không gây tác hại cho sức khoẻ; ngược lại, sữa rất có lợi cho sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ của xương.


    Nói về sữa thì cả một câu chuyện dài và có liên quan đến văn minh nông nghiệp. Theo nhiều nghiên cứu khoa học thì sữa bò và sữa dê đã được dùng từ 11000-12000 năm về trước, thời mà con người đã thuần hoá được động vật và bắt đầu có những phát minh làm cách mạng nghề nông. (Cũng cần nói thêm rằng quê hương của nông nghiệp trên thế giới là vùng Đông Nam Á chứ không phải Tàu). Ngày xưa chỉ có trẻ con mới uống sữa, người lớn không uống được sữa. Phải trải qua nhiều nhiều thế hệ và đột biến gen người lớn sau này mới uống được sữa.


    Sữa bò và kháng dung nạp đường


    Tuy nhiên, mãi đến nay, chỉ có khoảng 35% dân số trên thế giới có thể uống sữa động vật mà không có vấn đề (10). Nói cách khác, có đến 65% dân số thế giới không uống được sữa bò. "Hội chứng" không uống được sữa bò có tên là "lactose intolerance" (kháng dung nạp sữa). Tỉ lệ kháng dung nạp sữa ở các sắc dân Đông Nam Á là khoảng 80%. Tuy nhiên, cũng những người Đông Nam Á đó (như người Việt chúng ta) sang sống ở các nước giàu bơ sữa thì sau một thời gian uống sữa rất bình thường.


    Để hiểu tại sao một số đông không uống được sữa, chúng ta cần phải tìm hiểu "đường đi nước bước" của sữa khi vào cơ thể chúng ta. Sữa có chứa nhiều thành phần hoá học, bao gồm chất ẩm (moisture) khoảng 87%, kế đến là lactose (khoảng 5%), chất béo (~4%), protein (~3.5%), chất khoáng (0.8%). Lactose là một loại đường trong sữa, và chúng ta hãy nôm na gọi là "đường". Khi chúng ta uống sữa, các thành phần trên sẽ qua bao tử và đến ruột. Ở ruột, một enzyme có tên là lactase sẽ "biến chế" chất đường trong sữa thành galactose và glucose, rồi thải chúng ra hệ thống tuần hoàn để các cơ phận khác sử dụng cho mục tiêu tăng cường năng lượng. Khi cơ thể chúng ta không có đủ lactase (tức con "dao sinh học"), thì các vi khuẩn đường ruột sẽ cố gắng thay thế lactase và "biến chế" đường từ sữa, nhưng chúng làm không hiệu quả. Hệ quả là khi thiếu lactase, sữa bắt đầu lên men trong ruột, tạo ra chất gas, và làm cho chúng ta thấy như tràn khí, và dẫn đến tiêu chảy. Đó là "hội chứng" kháng dung nạp đường trong sữa, lactose intolerance, sau này có khi còn gọi là "lactase non-persistence" (nếu do gen).


    Khả năng dung nạp hay kháng dung nạp đường trong sữa là do gen. Một nhóm nhà khoa học ở Phần Lan phát hiện một vài biến thể gen LCT là nguyên nhân làm cho chúng ta không uống được sữa (nói chính xác là uống được nhưng không … thoải mái) (11). Đây là một phát hiện quan trọng vì qua đó có thể giải thích hiện tượng kháng dung nạp đường trong sữa bò.


    Sữa bò và acid


    Một số người, ngay cả trong giới y khoa, đồn đại rằng sữa và các thực phẩm như yogurt và phó mát là có hại cho sức khoẻ vì chúng chứa acid, nhưng họ không cung cấp nguồn thông tin khoa học. Sự thật thì không đơn giản như thế, vì còn tuỳ thuộc vào thời điểm lấy mẫu. Một nghiên cứu khá lâu nhưng vẫn là chuẩn mực cho thấy chỉ số pH trong sữa bò dao động từ 6.5 đến 7.2 (nên nhớ rằng chỉ số trung dung của pH là 7.0). Còn sữa dê thì có acid cao hơn, với chỉ số pH dao động từ 6.4 đến 6.7 (12). Như vậy, chúng ta thấy sữa bò không sản sinh acid như một số người nói.


    Thật vậy, không có bất cứ một chứng cứ khoa học nào cho đồn đại rằng sữa bò gây ra acid. Một chuyên gia đã viết bài báo khoa học đăng trên tập san dinh dưỡng và bác bỏ hoàn toàn lời đồn đại trên (13). Một cách ngắn gọn: sữa bò và các sản phẩm làm từ sữa bò không sản sinh và acid qua quá trình chuyển hóa, cũng chẳng làm chúng ta acid hóa, và pH không phải chỉ do ăn uống. Đo lường nồng độ pH trong nước tiểu không phản ảnh quá trình acid hóa hay sức khỏe. Chất alkaline trong thức ăn làm thay đổi pH trong nước tiểu nhưng không làm thay đổi pH toàn thân. Phosphate trong thức ăn không có tác động tiêu cực đến sự chuyển hóa của calcium.


    Một số người chỉ ra rằng những nước có nhiều bệnh "văn minh" như tiểu đường, béo phì và loãng xương cũng là những nơi dùng nhiều sữa nhất. Nhưng đây là một ngụy biện dạng "ecologic fallacy". Cái sai lầm cơ bản của phát biểu này là đơn vị phân tích là các quần thể (quốc gia) chứ không phải cá nhân. Tình trạng này cũng chẳng khác gì nói nước nào có IQ cao thường có đường sắt cao tốc!


    Nếu tôi so sánh một nhóm người uống sữa và một nhóm người không uống sữa và theo dõi sức khoẻ của họ, thì đơn vị phân tích ở đây là cá nhân. Nhưng nếu tôi so sánh các nước có lượng tiêu thụ TRUNG BÌNH về sữa và tỉ lệ TRUNG BÌNH về bệnh lí, thì đơn vị phân tích là quần thể. Kết quả phân tích từ quần thể không thể áp dụng cho cá nhân. Do đó, lấy mối tương quan tính trên nhiều quần thể mà suy luận cho cá nhân là một sai lầm rất căn bản về logic.


    Cho đến nay, rất nhiều bằng chứng khoa học (14-15) đều cho thấy một cách nhất quán là sữa và các thực phẩm từ sữa như yogurt và phó mát vẫn là nguồn calcium quan trọng cho chúng ta, đặc biệt là trong lúc mới lớn. Sữa rất có lợi cho sức khoẻ, và bằng chứng thì rất rất nhiều, như bài tổng kết sau đây (16). Chứng cứ về lợi ích của sữa đến sức khoẻ nhiều đến nổi có tác giả khuyên không nên làm nghiên cứu thêm làm gì, mà chỉ nghiên cứu tác dụng của từng loại thực phẩm thôi (16). Trẻ em và thiếu niên cần phải tích tụ xương đầy đủ, chắc, dẻo để ngừa loãng xương và mất xương khi về già. Một trong những lí do nhiều người bị loãng xương lúc về già là do tích tụ không đủ xương lúc còn trẻ. Để tích tụ xương đầy đủ lúc còn thanh xuân, chúng ta cần calcium và vitamin D, và để có calcium chúng ta cần tăng cường những món ăn uống giàu chất calcium như sữa và rau xanh. Không có lí do gì và chẳng có bằng chứng khoa học nào để quan tâm đến pH trong sữa.


    Sữa có ảnh hưởng đến tuổi có kinh?


    Một trong những "huyền thoại" hay được lưu truyền ở Việt Nam là uống sữa làm cho thiếu niên (nữ) có kinh sớm. Tuy nhiên, không có bằng chứng khoa học nào để nói như thế. Bằng chứng khoa học cho thấy uống sữa không có liên quan gì đến tuổi có kinh.


    Tuổi có kinh lần đầu và tuổi mãn kinh là hai đặc điểm nhân chủng rất thú vị. Tôi làm quen với hai đặc điểm này từ những năm đầu thập niên 1990s khi nghiên cứu về mối liên quan giữa "ovulation" và nguy cơ ung thư. Theo y văn thì những phụ nữ có kinh lần đầu sớm hoặc có tuổi mãn kinh trễ thì có nguy cơ ung thư tăng, nhưng mức độ tăng rất nhẹ. Do đó, tuổi có kinh nằm trong "radar" của giới nghiên cứu y khoa là có lí do từ ung thư, nhưng trong thực tế thì như tôi nói có lẽ chẳng đáng quan tâm.


    Tuổi có kinh lần đầu có xu hướng giảm theo thời gian. Vào thời thế kỉ 19 (cụ thể là năm 1840), tuổi trung bình có kinh lần đầu là 16.5. Hiện nay, tuổi có kinh giảm xuống khoảng 13 tuổi, và không có thay đổi đáng kể trong nửa thế kỉ qua. Nói như thế để thấy rằng sự khác biệt về tuổi có kinh rất thấp giữa các cá nhân.



    Nhưng tuổi có kinh có vẻ khác biệt giữa các sắc dân. Ở người da trắng, một nghiên cứu kinh điển trên 2510 thiếu niên tuổi từ 8 - 20 cho thấy tuổi trung bình có kinh lần đầu là 12.43 (17). Khoảng 90% thiếu niên có tuổi có kinh thấp hơn 13.75 tuổi. Nghiên cứu ở Tàu cho thấy tuổi có kinh ở thiếu niên Trung Hoa là 12.63 tuổi (18), tức cao hơn một chút so với thiếu niên Mĩ. Những dữ liệu trên đây cho thấy tuổi có kinh lần đầu giữa thiếu niên Âu Mĩ và Á châu chẳng khác nhau mấy.


    Còn ở Việt Nam thì sao? Chúng tôi mới xong giai đoạn I của dự án "Vietnam Osteoporosis Study" (VOS), và trong đó cũng có hỏi về tuổi có kinh lần đầu. Kết quả phân tích trên 2712 phụ nữ cho thấy tuổi trung bình có kinh lần đầu là 12.9 (median 13). Khoảng 99% người cho biết tuổi có kinh lần đầu là từ 9 đến 14 tuổi. Tuy nhiên, đây là dữ liệu dựa trên lời khai của các phụ nữ, mà những người trên 70 thì có thể nhớ không rõ mấy. Nhưng nhìn chung thì kết quả này cũng rất nhất quán với y văn.


    Quay trở lại vấn đề uống sữa có làm tăng tuổi có kinh lần đầu. Một nghiên cứu trên 5583 thiếu niên Mĩ tuổi từ 9 đến 14 và được công bố trên tập san chính thống cho thấy tuổi có kinh là khoảng 13, nhưng ở bất cứ lượng tiêu thụ nào, sữa không có liên quan đến tuổi có kinh (19). Phân tích chi tiết cho từng loại sữa cũng chẳng có mối liên quan.



    Nhưng một phân tích số liệu của NHANES III thì kết luận rằng uống nhiều sữa có liên quan đến có kinh sớm (20). Nhưng khi đọc kĩ số liệu thì thấy tác giả kết luận không đúng. Trong phần kết quả, tác giả viết "Cox regression yielded no greater risk of early menarche among those who drank milk 'sometimes/varied' or daily vs. never/rarely (HR: 1.20, HR: 1.25, respectively)," tức là không có liên quan giữa tiêu thụ sữa và tuổi có kinh lần đầu. Bảng số 2 của bài báo cũng cho ra kết quả như thế. Nói chung, bài báo này phân tích hơi dở, cách trình bày không tốt, và kết luận thì chủ quan, không phù hợp với dữ liệu thực tế.


  • Tuổi có kinh lần đầu là một đặc điểm nhân chủng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố (21). Những yếu tố quan trọng là di truyền, thành phần kinh tế, dinh dưỡng, luyện tập thể dục, trọng lượng cơ thể, v.v. Một số nghiên cứu phát hiện vài gen có liên quan đến tuổi có kinh. Một số gen có liên quan đến xương, như gen SPOCK, RANK, RANKL. Nhiều nghiên cứu cho thấy thiếu niên béo phì thường có tuổi có kinh sớm hơn so với thiếu niên không béo phì (và điều này cũng không khó để hiểu vì liên quan đến hormone). Do đó, nếu chỉ đánh giá một yếu tố như uống sữa mà không xem xét các yếu tố khác thì rất khó kết luận gì được.


    Nói tóm lại, chứng cứ khoa học cho thấy uống sữa không có ảnh hưởng đến tuổi có kinh lần đầu. Tuổi có kinh lần đầu ở nữ thiếu niên dao động trong khoảng 12-13, và tuổi trung bình là ~12.5 tuổi.


    Sữa và hormone tăng trưởng


    Một số người tỏ ra lo ngại là trong sữa bò có hàm lượng hormone tăng trưởng (growth hormones). Nhưng có lẽ do họ đọc những thông tin trên mạng từ những website không vì mục đích khoa học và sức khỏe cộng đồng, nên mới lo ngại như thế. Trong thực tế thì chẳng có gì phải lo ngại về hormone tăng trưởng, vì nhiều thanh thiếu niên Việt Nam đang cần chúng.


    Ít người biết rằng ở Việt Nam hiện đang có 36% trẻ em còi cọc, gần 20% là thiếu cân do thiếu dinh dưỡng (22). Những con số này cho thấy rõ ràng rằng Việt Nam vẫn là nước nghèo và thiếu ăn. Những người này chủ yếu là sống ở vùng quê, nhưng cũng có một số sống ở thành thị nhưng vẫn bị còi cọc do nghèo và thiếu ăn.



    Những trẻ em còi cọc và thiếu cân là do thiếu hormone tăng trưởng. Thật vậy, IGF-1 (một hormone tăng trưởng) được xem là một chỉ số, một marker về còi cọc. Phần lớn hàm lượng IGF-1 là tiết ra từ gan, và được vận chuyển đến các mô khác để đóng vai trò của một hormone nội tiết. Một số thực phẩm chúng ta ăn uống có thể giúp tăng IGF-1, như protein trong sữa, cá, và gà. Trẻ em thiếu IGF1 là có nguy cơ còi cọc và chết sớm, nhưng trẻ em có quá nhiều IGF1 thì có nguy cơ ung thư khi về già.


    Riêng sữa thì gần đây ở các nước phương Tây có vài nhóm ăn chay cho rằng thiếu niên uống sữa có nồng độ IGF-1 tăng. Nhưng họ không có chứng cứ khoa học nào cả, mà chỉ suy luận rằng bò được nuôi với một số thực phẩm kích thích tăng trưởng. Tuy nhiên, nghiên cứu trên người cho thấy những người uống sữa bò có nồng độ IGF-1 trong máu cao hơn người không uống sữa bò khoảng 10% (23). Nhưng người uống sữa đậu nành cũng có nồng độ IGF-1 tăng so với người không uống sữa. Do đó, sự gia tăng IGF-1 không phải là do sữa bò, mà có thể do các protein, chất khoáng hay các yếu tố khác liên quan đến rBGH.


    FDA (Cục quản lí thực phẩm và dược phẩm Hoa Kì) khuyến cáo rằng sữa bò là hoàn toàn an toàn (2). Một nhóm chuyên gia cũng đi đến kết luận tương tự, rằng sữa bò và sản phẩm làm từ sữa có tác động tích cực đến sức khỏe, nhưng cũng có thể có vài tác động tiêu cực nhưng không đe dọa đến sức khỏe. Tính chung, họ vẫn khuyến cáo dùng sữa và các sản phẩm từ sữa để cải thiện sức khỏe (24). Thật ra, ở các nước phương Tây thì sữa được dùng hàng ngày cho hầu hết thực phẩm, từ nấu nướng đến pha cà phê.


    Trong tình trạng nhiễu thông tin, chúng ta phải dựa vào khoa học, chứ không nên dựa vào những lời đồn đại chẳng có chứng cứ. Những website mà nhìn vào thấy toàn những từ cảm tính là không đáng tin cậy. Thông tin khoa học có nhiều loại, và cũng có khi "thượng vàng hạ cám", nên cần phải sàng lọc. Để sàng lọc và diễn giải thông tin khoa học cần phải có người am hiểu vấn đề. Chỉ có những thông tin được công bố trên các tập san y khoa có uy tín hay các hiệp hội chính thống và từ các nhóm nghiên cứu danh tiếng thì mới đáng trích dẫn, và tôi cố gắng cung cấp cho các bạn những thông tin như thế.


    Ở nước ta, số trẻ em còi cọc lên đến 36%, số phụ nữ sau mãn kinh bị loãng xương là khá cao (30%). Calcium là nguồn quan trọng để đạt mật độ xương đỉnh lúc còn trẻ và phòng chống mất xương khi về già. Sữa là nguồn calcium rất quan trọng. Nhưng bổ sung calcium phải đi kèm với vitamin D.


    ===


    (1) https://saveourbones.com/osteoporosis-milk-myth/


    (2) Bischoff-Ferrari H, et al. Milk Intake and Risk of Hip Fracture in Men and Women: A Meta-Analysis of Prospective Cohort Studies. J Bone Miner Res 2011; 26:833-839.


    (3) http://www.bmj.com/content/351/bmj.h4183


    (4) http://www.bmj.com/content/351/bmj.h4580


    (5) http://ajcn.nutrition.org/content/86/6/1780.long


    (6) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4715837/


    (7) http://www.endocrinologyadvisor.com/asbmr-2016/asbmr-calcium-and-vitamin-d-for-fracture-reduction/article/523272/


    (8) Ho-Pham L, et al. Vitamin D status and parathyroid hormone in a urban population in Vietnam. Osteoporosis International, 2011;22:241–248.


    (9) Nguyen HTT, et al. Vitamin D deficiency in northern Vietnam: Prevalence, risk factors and associations with bone mineral density. Bone 2012; 51: 1029–1034.


    (10) https://www.nature.com/news/archaeology-the-milk-revolution-1.13471


    (11) https://www.nature.com/ng/journal/v30/n2/full/ng826.html


    (12) http://www.jbc.org/content/46/1/129.full.pdf


    (13) Milk and acid-base balance: proposed hypothesis versus scientific evidence. J Am Coll Nutr. 2011 Oct;30(5 Suppl 1):471S-5S. Nguồn: www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22081694.


    (14) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22032348


    (15) http://ajcn.nutrition.org/content/41/2/254.abstract


    (16) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4006120



    (17) Chumlea WC, et al. Age at menarche and racial comparisons in US girls. Pediatrics. 2003 Jan;111(1):110-3.


    (18) http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.656.6276&rep=rep1&type=pdf


    (19) Carwile JL, et al. Milk Consumption after Age 9 Years Does Not Predict Age at Menarche. J Nutr. 2015 Aug; 145(8): 1900–1908.


    (20) http://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0014685


    (21) Dossus L, et al. Determinants of age at menarche and time to menstrual cycle regularity in the French E3N cohort. Ann Epidemiol. 2012 Oct;22(10):723-30.


    (22) http://siteresources.worldbank.org/NUTRITION/Resources/281846-1271963823772/Vietnam.pdf


    (23) https://www.cancer.org/cancer/cancer-causes/recombinant-bovine-growth-hormone.html


    (24) http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/1541-4337.12011/full


    Chú ý tôi không bàn việc cho con uống sữa mẹ mà tôi nghĩ là rất tốt.


  • Audiobook câu chuyện của dòng sông

    Posted on: 8 May 2017, 3:02 am





    PRESS RELEASE


    Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch 2017 phiên bản nguyên vẹn, đã được nhà thơ

    Lê Hân, Nxb Nhân Ảnh đưa lên You Tube. Xin giới thiệu với các Bạn Đọc. 


    NGÔ THẾ VINH

    Audiobook câu chuyện của dòng sông

    MEKONG DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH


    Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch của Ngô Thế Vinh là những trang bút ký sống động với nhiều hình ảnh của tác giả qua những chuyến đi thăm các khúc sông Mekong từ thượng nguồn Vân Nam, Lào, Thái Lan, Cam Bốt xuống tới ĐBSCL Việt Nam: cũng để thấy rằng với những bước khai thác huỷ hoại đã khiến toàn hệ sinh thái của dòng sông đang suy thoái nhanh hơn dự kiến của nhiều người, ngoài chuỗi những con đập thuỷ điện bậc thềm khổng lồ Vân Nam chắn ngang dòng chính Sông Mekong, nay lại thêm dự án 12 con đập dòng chính hạ lưu ở Lào và Cam Bốt với những hậu quả tích luỹ khiến con  Sông Mekong, Biển Hồ với Châu thổ Tonlé Sap và ĐBSCL đang chết dần.


    MKDSNM audiobook ra mắt lần đầu tiên 2007 là bản rút ngắn, nay 2017 được tái bản là một phiên bản nguyên vẹn với giọng đọc hiếm quý thuần Nam bộ của Ánh Nguyệt, nguyên phóng viên RFI; nhạc đệm của Đoàn Văn nghệ Dân tộc Lạc Hồng, phần hoà âm do Tuấn Thảo phụ trách. Mẫu bìa của Khánh Trường. Kỹ thuật You Tube Lê Hân. Phát hành miễn phí.


    Tập 1: https://www.youtube.com/watch?v=6_COKOfsVYo&t=91s

    Tập 2: https://www.youtube.com/watch?v=t1fofUx1GWQ&t=180s

    Tập 3: https://www.youtube.com/watch?v=WFl3tt5TPYc&t=3135s

    Tập 4: https://www.youtube.com/watch?v=uUTJNQ7AghE&t=63s

    Tập 5: https://www.youtube.com/watch?v=EVfWO9EVAcM&t=37s


    Liên Lạc:

    Nxb Nhân Ảnh, Lê Hân: han.le3359@gmail.com

    Việt Ecology Press: P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740




















  • Đọc sách "The Refugees" của Nguyễn Thanh Việt

    Posted on: 7 May 2017, 10:05 pm

    Cuốn sách "The Refugees" (Những người tị nạn) mới được xuất bản vào tháng Ba năm nay (2017) (1). Tác giả là Nguyễn Thanh Việt (2), một ngôi sao sáng chói trên văn đàn thế giới và mới được trao giải thưởng văn học Pulitzer vào năm ngoái. Đây là một tác phẩm hay và độc đáo, một articulationtuyệt vời về tình cảnh của người tị nạn mà không phải ai cũng làm được như tác giả. Nhân ngày 30/4 và nhân những ồn ào chung quanh chính sách tị nạn của chính phủ mới ở Mĩ, tôi thiết nghĩ vài dòng điểm sách cũng là một cách chia sẻ cùng các bạn trong ngày lịch sử này.





    Có thể tóm lược Những người tị nạn (NNTN) bằng chỉ một chữ: ám ảnh. NNTN là một tập truyện gồm 8 truyện ngắn viết về thân phận của những người tị nạn Việt Nam trên đất Mĩ, và tất cả họ đều bị ám ảnh về quá khứ. Quá khứ chiến tranh. Quá khứ tù đày trong các trại cải tạo. Quá khứ tị nạn và vượt biển. Quá khứ trong những ngày đầu đến Mĩ. Ám ảnh là những gì xảy ra với chúng ta và những gì chúng ta đi tìm. Theo tác giả, tất cả chúng ta đều mang trong người, ít ra là trong tâm tưởng, một quá khứ. Cái quá khứ đó giúp chúng ta hiểu hơn về hiện tại và giúp định hình cái hiện tại. Những chấn thương tinh thần là những trải nghiệm cơ bản nhất của con người, và ít ai trong chúng ta, nhất là người tị nạn, mà không bị chấn thương. Tập truyện bắt đầu bằng một câu chuyện ma [thật], và kết thúc cũng bằng một truyện ma trong suy nghĩ. Toàn bộ văn cảnh là những câu chuyện ngắn mô tả những ám ảnh về những nhân vật trôi dạt cùng những mối liên hệ gãy vỡ, được chạm trổ bằng những câu chữ được chọn lọc cẩn thận làm cho người đọc rất khó quên sau khi gấp cuốn sách lại.


    Cái ý tưởng chính định hình những sáng tác của tác giả có lẽ là kí ức chiến tranh. Trong một tác phẩm khác (3), Nguyễn Thanh Việt có đưa ra một nhận xét chí lí rằng tất cả các cuộc chiến đều diễn ra hai lần; lần thứ nhất là ở chiến trường, lần thứ hai là ở kí ức ("all wars are fought twice. The first time on the battlefields, the second time in memory"). Nói đến kí ức là nói đến tưởng nhớ, tưởng niệm. Như nhà văn Jorge Luis Borges có lần viết rằng tưởng nhớ là một "động từ ma quỉ" (remembering is a ghostly verb). Kí ức có thể là những gì ám ảnh người gìn giữ kí ức. Bàng bạt trong tác phẩm NNTN, từ câu truyện ngắn mở đầu đến truyện ngắn cuối cùng, chính là sự ám ảnh.


    Sách bắt đầu bằng câu chuyện "The Black Eyed Women" ("Những người phụ nữ mắt đen") rất độc đáo và nói theo tiếng Anh là rất "tài tình". Tuy không dễ đọc, nhưng đọc vài lần sẽ thấy cực kì hay về cách tác giả dàn bối cảnh câu chuyện và ý nghĩa của nó. Đây là một truyện ngắn mà tác giả đã đầu tư rất nhiều thời gian và công sức (hơn 17 năm) và đã qua hơn 50 lần chỉnh sửa. Nói như vậy để thấy việc chọn truyện ngắn này mở đầu tác phẩm là một màn trình diễn rất công phu. "Những người phụ nữ mắt đen" kể lại câu chuyện về một người phụ nữ vượt biên đến Mĩ, chị hành nghề "tác giả ma" (ghost writer), có nghĩa là chuyên viết truyện cho người khác in nhưng chị không đứng tên tác giả, nhưng chị là người đối diện với bóng ma. Một cách chơi chữ đầy ý nghĩa!


    Chị sống với bà mẹ 63 tuổi mắt đen huyền một cách -- nói theo chị là -- "lịch sự". Bà mẹ lúc nào cũng ám ảnh về quá khứ ở bên nhà. Bà thường hay nói với chị là nếu người cộng sản không vào Sài Gòn thì giờ này Việt Nam đã trở thành giàu có như Hàn Quốc rồi, chị đã có gia đình và có con, và bà đã là người nghỉ hưu, chứ đâu phải hành nghề làm đẹp móng tay như hiện nay. Vào đầu câu chuyện, bà kể rằng ở bên nhà (Việt Nam) có một kí giả viết báo cho rằng chính quyền tra tấn tù nhân, và thế là chính quyền trả thù bằng cách dùng những đòn tra tấn đó cho người kí giả. Bà mẹ cho rằng đó là cái giá phải trả khi để tên trên một sự vật (có lẽ kể cả việc đứng tên tác giả một bài báo). Và, có lẽ chính vì thế mà chị hành nghề "tác giả ma". Bà mẹ tin rằng có ma, còn chị tác giả ma thì không tin chuyện có ma. Nhưng một đêm chị gặp ma. Đó là người anh của chị hiện về trong bộ quần áo ướt sũng. Người anh đã cùng chị vượt biên trên một con tàu vô danh 25 năm về trước (lúc đó chị mới 13 tuổi), và người anh đã từng che chở chị để không bị hải tặc hành hạ. Trong một cuộc đấu tranh chống lại bọn hải tặc, người anh của chị đã bị bọn hải tặc giết chết và xác bị ném xuống biển. Anh đã phải bơi lội suốt 25 năm từ Biển Đông sang California để thăm chị và mẹ. Giây phút trùng phùng giữa chị và người anh trai không làm người đọc cảm động hay rùng mình sợ hãi, vì tác giả lồng vào những mẫu đối thoại mang tính triết lí.


    "Con ma" về không có một ý định gì cả, không trả thù ai, cũng chẳng làm hại ai, chỉ đơn giản ghé thăm chị và mẹ. Chuyến ghé thăm của bóng ma của người anh trai làm cho chị có cảm hứng bỏ nghề làm tác giả ma, và quay về làm chủ những câu chuyện chị sáng tác ra. Và, ngay từ cái lúc chị quay về chính mình thì cũng là lúc chị đã chết mà chị không biết. Chị hỏi "tại sao anh phải chết và em còn sống", thì ma trả lời "Em cũng đã chết rồi. Em chỉ không biết mình chết đó thôi." Người kể chuyện trong "Những người phụ nữ mắt đen" cho rằng chúng ta không thuộc về nơi chốn này, nơi mà sở hữu vật chất được xem là tất cả; chúng ta không có tài sản gì cả ngoài những câu chuyện. Mà, ngay cả những câu chuyện thì cũng chỉ là "những sự vật chúng ta phịa ra, không hơn không kém. Chúng ta tìm chúng trong cái thế giới hiện hữu bên cạnh chúng ta, rồi chúng ta bỏ chúng tại nơi mới tìm ra như những con ma bỏ lại quần áo." Cái trọng lượng quần áo đó cũng chính là trọng lượng của chứng cứ.


    Chủ đề bóng ma được triển khai trong truyện ngắn thứ hai có tựa đề "The Other Man" (Một người đàn ông khác). Truyện kể về một người tị nạn tên Liem (chắc là " Liêm ") rời Việt Nam trong những ngày miền Nam hấp hối vào năm 1975. Liêm người gốc Long Xuyên lên Sài Gòn làm nghề chạy bàn. Khi đến Mĩ, Liêm phải chờ một gia đình bảo lãnh để có thể hội nhập vào xã hội Mĩ. Người bảo lãnh là Parrish Coyne, người hành nghề kế toán ở San Francisco. Coyne là người đồng tính luyến ái, sống chung với một thanh niên tên là Marcus. Thoạt đầu, Liêm không nhận ra đồng tính luyến ái, nhưng khi Coyne vắng nhà trong những chuyến công tác xa, Marcus mò đến ngủ chung giường với Liêm. Liêm khám phá ra mình là một người đồng tính luyến ái, và gia đình của Liêm ở Việt Nam dĩ nhiên là rất sốc về sự thật này. Sau này, khi nghĩ lại Liem thấy mình là một con ma, con ma về tính dục của mình.


    Truyện ngắn thứ ba "The Transplant" cũng là một truyện ngắn đặc sắc. Câu chuyện về một nhân vật nghiện rượu và bài bạc người Mĩ gốc Mễ Tây Cơ tên Arthur Arellano và một thanh niên tị nạn gốc Việt tên Luis. Arthur Arellano bị bệnh gan và chờ chết nếu không được thay lá gan. Còn Luis là một người buôn bán hàng hiệu dỏm mà anh ta cho là tốt hơn hàng thật! Khi Arellano được thay tim, Luis nói với ông rằng lá gan trong cơ thể của ông chính là do Luis tặng cho. Nhưng Luis nói dối, vì lá gan mới là của người Việt tên là Men Vu bị chết trong một tai nạn xe hơi. Hàm ý của câu chuyện là hàng dỏm mà Luis buôn bán cũng đáng nghi ngờ như cái căn cước tính của anh; anh cũng là một con ma.


    Đời sống của người tị nạn cao tuổi cũng được tác giả nhắc đến qua truyện ngắn "I'd Love You to Want Me". Truyện viết về một nhân vật tên Khanh, cựu giáo sư ở Việt Nam nay mắc bệnh Alzheimer, và chắc chắn sẽ chết. Ông và bà vợ từng có một căn nhà trên đường Phan Thanh Giản ở Sài Gòn (nay là Điện Biên Phủ), căn nhà bị một cán bộ ngoài Bắc vào chiếm. Hai ông bà có về lại Việt Nam để nhìn căn nhà đang bị xuống cấp do "chủ nhân" mới không chăm sóc, và điều đó làm cho ông bà rất giận. Ông Khanh hoàn toàn mất trí nhớ. Ông không nhớ tên vợ con, không nhớ đến sách vở mà ông từng đam mê. Ông gọi vợ là "Yến", trong khi tên thật của bà là Sa; thoạt đầu làm bà nghi ngờ Yến là tên người vợ bé hay người tình cũ của ông, nhưng sau này thì bà hiểu đó chỉ là một sự tưởng tượng của người mất trí nhớ. Người con trai đang trưởng thành ở Mĩ trở nên "cứng đầu", không nghe lời cha mẹ. Người con trai tên Vinh (tên tiếng Anh là "Kevin") trong độ tuổi trung học đang yêu một cô gái Mĩ, và thường hay trốn nhà để đi chơi cùng bạn gái, và dĩ nhiên hai vợ chồng ông Khanh không hài lòng. Vinh nhất định đòi mẹ phải nghỉ việc ở thư viện để chăm sóc ông Khanh, nhưng bà không chịu. Trong một lần nói chuyện qua điện thoại, người con trai bực mình nói như quát rằng "Con đang yêu, mẹ có biết không? Mẹ đâu biết yêu là gì, phải không?" Người vợ ông là kết quả của một cuộc hôn nhân do cha mẹ hai bên dàn xếp từ lúc còn ở Việt Nam. Toàn bộ câu chuyện là một sự xung đột giữa cái truyền thống và cái mới. Hai ông bà Khanh sống trong kí ức và kỉ niệm thời vượt biên, còn cậu con trai thì không muốn nhớ đến chuyện buồn vượt biên.


    Một truyện ngắn cũng nằm trong chủ đề "khoảng cách thế hệ" là truyện "Someone Else Besides You". Trong truyện này, tác giả viết về cái khoảng cách về thế hệ giữa cha và con. Người con 33 tuổi, lớn lên ở Mĩ, đã li dị vợ. Nhưng đối với người cha, người con 33 tuổi chưa phải là đàn ông, bởi vì anh ta chưa có con và li dị. Ông là một người theo truyền thống gia trưởng, một cựu sĩ quan nhảy dù, và ông còn khỏe mạnh, diễu hành trong những dịp lễ lạc kỉ niệm ngày Quân lực VNCH ở Little Sài Gòn.


    Hầu hết những nhân vật trong tác phẩm NNTN là người tị nạn hay con cháu của họ, chỉ có nhân vật Mĩ da đen tên James Carver trong "The Americans" ("Những người Mĩ") thì không phải dân tị nạn. Carver là một cựu phi công chiến đấu cơ B52 trong thời chiến, ông thả bom xuống Việt Nam, nhưng chưa bao giờ đặt chân xuống vùng đất mà ông nghĩ là điềm xui xẻo. Ông có vợ là người Nhật tên là Michiko. Sau cuộc chiến, con gái của ông (tên Claire) sang Việt Nam dạy tiếng Anh và quen một người bạn trai gốc Việt tên là Khoi Legaspi (có cha nuôi người Mĩ trắng), lúc đó là một nghiên cứu sinh về robotics thuộc Học viện công nghệ Massachusetts (MIT). Michiko muốn sang Việt Nam thăn con gái, nhưng ông Carver thì còn ngần ngừ. Nhưng cuối cùng thì họ cũng đi Việt Nam, có dịp viếng cung thành Huế, và thậm chí sang Kampuchea. Sau chuyến đi "trải nghiệm" đó, Carver tuyên bố rằng ông bây giờ có một linh hồn Việt.


    Một trong những truyện mang nhiều dấu ấn cá nhân nhất có lẽ là "War Years" ("Những năm chiến tranh"). Sở dĩ tôi nói truyện này mang tính cá nhân, vì cha mẹ của tác giả lúc mới sang Mĩ định cư có mở một tiệm chạp phô, bàn hàng hóa Á châu cho đồng hương ở San Jose (Bắc California), và tiệm đã từng bị một tên cướp "viếng thăm". Có lẽ chính cuộc cướp đó là nguồn cảm hứng cho tác giả viết truyện ngắn "Những năm chiến tranh", mà trong đó người kể chuyện xưng "tôi" kể về một tiệm chạp phô do cha mẹ người kể chuyện bị tống tiền. Lần thứ nhất là một tên cướp có súng xông vào tiệm ăn cướp trước sự chứng kiến của người kể chuyện, được thuật lại một cách sinh động. Vụ thứ hai là một sự tống tiền nhân danh ủng hộ kháng chiến giành lại quê hương từ tay người cộng sản. Chúng ta nhớ rằng thời thập niên 1980, ở hải ngoại có các nhóm "kháng chiến" với mục tiêu là khôi phục VNCH, và khi viết truyện này tác giả tỏ ra là một người mẩn cảm với thời cuộc. Người tống tiền là một người phụ nữ tên Hoa, người chuyên đi "quyên tiền" các chủ tiệm người Việt nhân danh kháng chiến. Bà Hoa có một gia đình li tán. Chồng bà là một biệt kích nhảy dù ra ngoài Bắc những có lẽ bị giết chết nên bà chẳng có tin tức gì. Con trai của bà đi lính và trở thành một sĩ quan trong quân lực VNCH, và hi sinh. Nhưng hình con trai bà trên bia mộ bị "những người thắng trận" móc mắt. (Cái chi tiết hình trên bia mộ bị móc mắt có lẽ là thật và đã được viết trong cuốn "Nothing Ever Dies - Vietnam and the Memory of War" (3). Việc làm tống tiền của bà Hoa thật ra là một nỗ lực đền bù cho sự mất mát của bà trong thời chiến.


    Truyện ngắn sau cùng và cũng là chuyện đau lòng nhất là "Fatherland" (Tổ quốc). Câu chuyện xoay quanh một nhân vật "tay chơi" sống sót sau những năm tháng chiến tranh ác liệt trước 1975, và tù đày trong các trại cải tạo sau 1975. Bà vợ trước của ông đã bỏ đi Mĩ và đem theo một nhóm con, ông ở lại Việt Nam và thành hôn với một người phụ nữ khác và có thêm một nhóm con với cùng tên những người con ở Mĩ. Ngày nay, ở Việt Nam ông hành nghề hướng dẫn viên du lịch. Ông chuyên dẫn du khách Mĩ ghé thăm những địa đạo nổi tiếng ở Củ Chi trong thời chiến. Một trong những con gái của ông là Phuong (có lẽ là "Phượng"), người có nhận xét tinh tế về kí ức của du khách: "Vài ngày, hoặc một tuần, hoặc hai tuần, những du khách sẽ rời Việt Nam, những kí ức sâu sắc nhất của họ có lẽ là trải nghiệm được chui bò trong những địa đạo, và kỉ niệm nhạt nhòa với người hướng dẫn viên. Tất cả chúng ta đều như nhau: nhỏ thó, dễ mến, và dễ quên." Một nhận xét mang màu sắc tủi hổ và giận dỗi.


    Nhiều nhân vật trong NNTN bắt đầu viết lại những câu chuyện đời khi họ đến Mĩ và đối diện với những thể văn kể chuyện của người Mĩ. Một ví dụ tiêu biểu là câu chuyện Vivien trong truyện "Tổ quốc". Vivien là người chị cùng cha khác mẹ của Phượng, lớn hơn Phượng 7 tuổi; Vivien cùng mẹ sang Mĩ sống sau 1975. Trong những thư gửi về nhà, Vivien nói rằng cô là một bác sĩ nhi khoa và có một cuộc sống thoải mái về vật chất. Do đó, Phượng rất muốn sống cuộc sống như chị mình mô tả trong thư. Sau này, Vivien có dịp về Việt Nam thăn ba và các em, cô dẫn cả nhà đi ăn uống những nhà hàng sang trọng và mua nhiều quà đắt tiền cho Phượng. Nhưng trong một dịp tình cờ, Phượng biết rằng Vivien không phải là bác sĩ nhi khoa, mà là một cô thư kí bị đuổi việc vì lẹo tẹo với ông chủ. Thế là giấc mơ đi Mĩ của Phượng bị chết yểu. Phượng mới nhận ra rằng nếu cô muốn sống như Vivien thì cô phải hi sinh cái căn cước tính của mình, và sẽ trở thành một con ma trong cô. Và, đây có lẽ là phần kết luận quan trọng nhất của tập truyện NNTN: bạn không phải sống cuộc sống của một con ma. Ngày tiễn đưa Vivien về Mĩ ở phi trường, hai chị em chụp hình chung, nhưng khi về đến nhà, Phượng đốt tấm hình đó và tro khói bay lên không gian Sài Gòn. Tập truyện kết thúc ở đó.


    Người tị nạn (refugee) khác với người di cư (immigrant). Người tị nạn là người tuyệt vọng, vô quốc tịch, không có tài sản, và họ bị "bứng" khỏi quê hương qua một biến động lịch sử. Người di cư có quốc tịch, họ có tài sản, và họ ra đi một cách tự nguyện. Người tị nạn do đó thường mang trong mình những chấn thương tinh thần. Người tị nạn lúc nào cũng bị ám ảnh bởi căn cước tính của mình. Tất cả những nhân vật trong tập truyện đều có chấn thương tinh thần, và có vấn đề. Nhưng tác giả tỏ ra là một người hiền lành vì anh đối xử với những con người thất bại và hư hỏng bằng một thái độ nhẹ nhành, tử tế và độ lượng.


    Người tị nạn sống giữa hai thế giới. Một bên là quê hương, nơi chôn nhao cắt rốn; một bên là quê hương tạm dung. Người tị nạn, như đề cập trong phần đầu, thường bị chấn thương tinh thần. Họ bị giằng xé tâm tư, một bên là kí ức của quê hương đầy biến động và đau khổ, một bên là đất nước tạm dung giàu có nhưng chưa chắc là thoải mái. Do đó, người tị nạn đã xa rời quê hương, nhưng trong tâm tưởng họ chưa bao giờ rời quê hương. Họ ở đây, nơi tạm dung, mà không phải ở đây. Họ thành đạt về kinh tế, họ có thể có địa vị trong xã hội nơi tạm dung, nhưng cái tâm của họ thì vẫn còn chông chênh. Họ cũng như là những con ma, thể xác đã chết đi nhưng họ vẫn còn lẫn quẫn đâu đây.



    Nguyễn Thanh Việt là người đã mô tả được hay đã diễn giải được cái tâm lí chông chênh đó trong người tị nạn. Bằng một văn phong điêu luyện bậc thầy, với những quan sát tinh tế, cùng những phân tích tâm lí sâu sắc, Nguyễn Thanh Việt dẫn dắt người đọc đến những kí ức sâu thẳm trong lòng người tị nạn. Những câu chuyện trong tập truyện NNTN tuy viết về những người tị nạn Việt, nhưng những thông điệp và thân phận chông chênh mà tác giả viết có thể áp dụng cho bất cứ sắc dân nào. Có lẽ chính vì thế mà tác giả đề ngay từ trang đầu dòng chữ "For all refugees, everywhere" (Cho tất cả những người tị nạn, ở mọi nơi).

    Một nhà văn có tài không chỉ để lại những câu văn đẹp, mà còn là những câu nói mang tính wisdom. Nguyễn Thanh Việt là một nhà văn đã để lại cho người đọc nhiều câu nói đáng được trích dẫn như là những wisdom - tri thức. Một tri thức tôi tâm đắc nhất là câu [dịch sang tiếng Việt] "tất cả các cuộc chiến đều diễn ra hai lần; lần thứ nhất là ở chiến trường, lần thứ hai là ở kí ức". Những tri thức và nhận xét trong NNTN cũng có thể xem là những định luật nhân văn của nhân loại.


    ------


    (1) Tác phẩm "The Refugees" của Nguyễn Thanh Việt, First Grove Atlantic xuất bản 2/2017, 209 trang.


    (2) Trong phần Cảm tạ, Nguyễn Thanh Việt tri ân một số người thân trong gia đình và qua đó chúng ta biết thêm chút ít về tác giả. Ba Má anh là người Bắc tị nạn ở miền Nam vào năm 1954, và tị nạn lần nữa vào năm 1975 (anh viết "refugees in 1954 and again in 1975"). Trong cuốn "Nothing Ever Dies -- Vietnam and the Memory of War", chúng ta có thể đoán rằng ba mẹ tác giả là người công giáo nguyên quán Ninh Bình (hay Nam Định), Bắc Việt Nam. Có thể nói rằng gia đình anh là một gia đình tị nạn thành đạt trên đất Mĩ, dù tác giả không hề và không muốn nói về điều này. Ba Má anh làm chủ một tiệm chạp phô ở San Jose vào thập niên 1980s. Anh trai là Nguyễn Thanh Tùng, tốt nghiệp cử nhân triết học từ ĐH Harvard, y khoa từ ĐH Stanford, và đang là giáo sư y khoa của ĐH California, San Francisco. Tác giả xem người anh là một tấm gương, người đã đặt cái chuẩn cao trong cái học. Tác giả đã có gia đình, vợ mà tác giả gọi là "partner" là Lan Duong, và hai người có một con trai. Tác giả tự nói về mình là người sinh ra ở Việt Nam nhưng được nhào nặn ở Mĩ (born in Vietnam, made in the United States). Anh thấy mình như là một kẻ gián điệp. Ở trong nhà của ba má, anh là kẻ gián điệp vì anh là một đứa Mĩ con; ở ngoài xã hội, anh cũng là một gián điệp vì anh là người gốc Việt đang quan sát người Mĩ.


    (3) Tác phẩm " Nothing Ever Dies - Vietnam and the Memory of War" của Nguyễn Thanh Việt, Harvard University Press xuất bản 2016, 374 trang.



    (4) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2016/12/ban-oc-nguyen-thanh-viet-viet-thanh.html

  • Older news items:

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: